Một lễ hội chung giữa hai làng Đông Lâm- Nga Trại. Ảnh tư liệu
Không có mối thù
oán nào được ghi lại, khoảng cách địa lý giữa hai làng cũng chưa đầy
3000 mét. Đây quả là một sự bí ẩn…
Lời thề làng cổ
Hai ngôi làng này là Đông Lâm và Nga Trại đều thuộc
xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang. Không giống như những ngôi
làng khác, hai làng này cho đến nay vẫn còn giữ được những nét đặc trưng
của làng quê Bắc Bộ, chưa bị cơn lốc đô thị hóa tác động đến.
|
Người nhập cư cũng phải theo lệ làng
“Trước kia, ở Đông Lâm, Nga Trại đã từng có hai
người yêu nhau, muốn đến với nhau. Khi dân làng biết đã bắt vạ. Người
con gái phải sửa một cái lễ với mâm xôi, con gà mang đến đình làng của
người kia để tạ, xin lỗi thành hoàng làng. Sau khi lễ tạ hai làng, đôi
trai gái tự nhiên lại coi nhau như anh em. Cứ như vậy, bao đời nay không
ai phạm phải hương ước của hai làng, không có chuyện đáng tiếc nào xảy
ra. Nếu lỡ có đôi trai gái hai làng có tình ý với nhau ngay lập tức bị
nhắc nhở, nặng thì bị kỷ luật và thông báo tới gia đình. Nếu người làng
khác nhập cư vào Đông Lâm hoặc Nga Trại thì cũng phải tuân theo tục lệ
nơi đây. Đó là nhập gia tùy tục!”.
Ông Ngô Văn Mến - người dân làng Đông Lâm. |
Để kiểm chứng thông tin trai gái hai làng này
không lấy nhau, chúng tôi đến UBND xã Hương Lâm. Tại đây, lãnh đạo xã
cho hay, kể từ khi có chính quyền xã tới nay, quả thật chưa có một đôi
nào thuộc hai làng trên đăng ký kết hôn với nhau. Địa phương không có
bất kỳ hình thức gì tác động đến việc này hay cấm đoán gì họ. Một cán bộ
ở UBND xã còn cho biết, trải qua bao biến thiên của lịch sử, qua bao
nhiêu chế độ xã hội, những người ở hai ngôi làng này vẫn không gá nghĩa
với nhau. Dường như có một lời thề nào đó từ xa xưa. “Nhưng xa xưa là
thời gian nào thì tôi cũng không biết, hình như cả bố tôi, ông tôi cũng
không biết” - người này nói.
Vào Đông Lâm, Nga Trại, tôi gặp rất nhiều các bậc
cao niên nhưng họ chỉ giải thích được một cách khá ngắn gọn rằng, từ rất
lâu đã có cái lệ này rồi. Duy chỉ có ông Dương Văn Nga, một người rất
dễ mến ở Nga Trại, nói được được một con số cụ thể hơn: “Lệ hai làng
không lấy nhau có từ thời rất xưa, cũng phải hơn 3000 năm rồi và chưa có
ngoại lệ”. Tuy nhiên khi hỏi căn cứ vào đâu mà ông nói vậy thì ông Nga
bảo, chỉ nghe các bậc tiền bối truyền lại như thế.
Thấy ở Nga Trại không tìm hiểu gì được nhiều, tôi
ngược sang Đông Lâm. Tại đây, tuy chưa tìm được lời giải cho cái lệ kỳ
lạ kia nhưng tôi lại được nghe nhiều câu chuyện thú vị. Ông Đồng Văn
Thông, người giữ chìa khóa đình và các di tích ở làng Đông Lâm cho biết,
cách đây ít lâu, khi người dân địa phương tìm thấy một số cổ vật đã có
các nhà khảo cổ về tìm hiểu, họ khẳng định Đông Lâm có tuổi đời khoảng
3.400 năm. “Ngoài ra họ còn cho rằng người Việt cổ đã cư ngụ liên tục
trên mảnh đất này, xây dựng được những nền văn hóa mà giới khảo cổ gọi
là văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun cho đến văn hóa Đông Sơn. Người Việt cổ ở
đây là tộc người đóng góp nhiều vào sự hình thành một “bộ” trong số 15
bộ của nhà nước Văn Lang xưa kia” - ông Thông nói.
Trẻ em Đông Lâm- Nga Trại ngay từ khi đi học đã được răn dạy
“hai làng là anh em”. Ảnh: Q.T
Việc tìm thấy cổ vật dưới lòng đất cũng được thủ từ
đình làng Đông Lâm, cụ Ngô Văn Thịnh xác nhận. Cụ cho hay, trong quá
trình khai hoang, sản xuất, người dân đã tìm thất rất nhiều lưỡi rìu
bằng đá, bằng đồng và nhiều đồ sinh hoạt trong cuộc sống của người xưa.
Dân đã đem nộp cho đình trông giữ. Để chứng minh, cụ Thịnh mở ngăn tủ
kính cũ kỹ cho tôi xem rất nhiều hiện vật lỉnh kỉnh phía trong và nói:
“Hàng nghìn năm rồi đấy. Từ thời này, người hai làng Đông Lâm, Nga Trại
đã thống nhất là không kết duyên vợ chồng với nhau”.
Ông Ngô Văn Mến với cổ vật bằng đá mới đào được sau khi cày ruộng.
Là anh em một nhà?
Một người làng Đông Lâm khác là ông Ngô Văn Mến
cung cấp cho chúng tôi những thông tin rất đáng chú ý. Ông Mến khẳng
định chắc như đinh đóng cột: “Trai gái hai làng không lấy nhau, lý do
rất đơn giản vì chúng tôi coi như anh em một nhà. Đã là anh em thì không
được lấy nhau!”.
Theo lời ông Mến, hai làng Đông Lâm – Nga Trại trải
qua quãng thời gian rất dài của lịch sử nhưng chưa hề có một trường hợp
nào phá lệ. Thời phong kiến, tục lệ này rất khắt khe. Lệ làng đề ra nếu
ai đó vi phạm phải cắt tóc bôi vôi, gia đình phải mổ trâu, giết lợn
chịu phạt vạ cho làng. Còn thời nay, trẻ con hai làng được răn dạy điều
đó ngay từ khi bắt đầu đi học. Ông Mến cho biết: “Từ cái thuở tôi còn
học tiểu học ở trường làng, các thầy cô giáo đã nhắc nhở trai gái hai
làng không được trêu ghẹo nhau chứ đừng nói đến việc sau này... tán
tỉnh. Và bây giờ cũng vậy, trẻ hai làng cùng học chung một trường, một
lớp nhưng cái lệ không được lấy nhau vẫn được răn đe nhắc nhở rất cẩn
thận”. Theo ông Mến, cũng có những trường hợp có tình ý với nhau, nhưng
chỉ mới là “hiện tượng” là đã bị người lớn nhắc nhở, thậm chí báo cáo
với gia đình rồi.
Chúng tôi hỏi về nguyên do của cái lệ này, ông Mến
lắc đầu cười bảo ông không biết rõ, chỉ biết vì hai làng là anh em, mà
như vậy là cùng huyết thống, nghĩa là không được lấy nhau. “Tôi không
biết căn nguyên hay truyền thuyết cụ thể nào. Có một bức tường, đó là
bức tường truyền thống ngăn trai gái hai làng Đông Lâm – Nga Trại đến
với nhau, cho dù lớn lên cùng nhau, học cùng trường, chung nhau kỷ niệm
tuổi thơ, nhưng vẫn không lấy nhau. Bức tường vô hình đó không đến từ
lời nguyền mà đến từ những lời căn dặn hàng ngày của cha mẹ, thầy cô
giáo, người làng. Vì thế cho nên, cứ đời này sang đời khác, sống gần gũi
với nhau đấy mà vẫn không có chuyện lấy nhau” - ông Mến nói.
Trên kính, dưới nhường
Theo nhiều vị bô lão khác thì Đông Lâm, Nga Trại
chính thức đi lại, kết giao tình nghĩa anh em sắt son, bền vững vào năm
1075, khi Lý Thường Kiệt đưa quân đánh đuổi quân Tống trên phòng tuyến
sông Cầu. Từ đó đã trở thành thông lệ, cứ 6 năm một lần vào ngày 10/9 âm
lịch, hai làng lại lần lượt trống dong, cờ mở đón nhau về mở hội.
“Những người được cử sang đón người anh em về phải là những đức cao vọng
trọng, đủ tư cách đạo đức, mẫu mực. Truyền thống tốt đẹp đó được dìn
giữ cho đến ngày hôm nay. Trong gần 1000 năm qua, tục lệ này chỉ bị gián
đoạn từ năm 1944 đến 1986 bởi bom đạn chiến tranh và khó khăn về mặt
kinh tế”, ông Mến - người vinh dự được làng Đông Lâm 3 lần (1996, 2002,
2006) cử làm đại biểu đi đón hoặc đi dự lễ cho biết.
|
Dấu vết người Việt 3000 năm trước
Từ thời kỳ đồ đá, ở Hiệp Hòa đã xuất hiện dấu tích
con người. Những xóm làng đầu tiên của Hiệp Hòa hình thành dọc hai bờ
sông Cầu.
Cách đây khoảng mười năm, các nhà khảo cổ đã khai
quật khu di chỉ ở Đông Lâm với diện tích 80 m2, ở độ sâu 1,8 m họ đã tìm
thấy nhiều đồ đá, đồ gốm, đồ đồng…có niên đại cách ngày nay khoảng hơn
3000 năm. |
Thuở xưa, làng Nga Trại vẫn còn thuộc làng Nguyên.
Đất chật người đông nên dân di cư về một vùng đất mới để định cư với tên
gọi Xa Trại. Về sau dân làng gọi chệch Xa Trại thành Nga Trại. Làng nằm
cạnh làng Đông Lâm nên các cụ đã có sự giao kết giúp đỡ nhau diệt thú
dữ, chống lại thiên tai và chống quân thù.
Về Đông Lâm và Nga Trại chúng tôi nhận thấy một
điều thú vị là giữa hai làng luôn có một sự kính trọng, nhường nhịn lẫn
nhau một cách rất đặc biệt mà không một nơi nào có được. Không chỉ các
cụ già, mà ngay cả thanh niên Đông Lâm, Nga Trại khi gặp nhau rất trên
kính, dưới nhường, xưng hô với nhau là anh, em, không bao giờ thấy gọi
“mày, tao”. Theo ông Mến thì từ thuở ông còn trẻ đến giờ vẫn chưa thấy
một vụ va chạm nào giữa hai làng, cho dù chỉ là lời qua tiếng lại.
“Người Đông Lâm chúng tôi lành người là vậy, nhưng người Nga Trại còn
nhẹ nhàng hơn”, ông Mến nói.
Ông Mến kể, những năm 80 của thế kỷ trước, kinh tế
còn khó khăn, mỗi lần Đông Lâm vào mùa vụ, Nga Trại lại cử người đưa
trâu bò xuống cày bừa giúp. Rồi đến lúc Nga Trại vào mùa, Đông Lâm lại
đưa người, trâu bò lên giúp. Cứ như thế, từ đời này sang đời khác, hai
làng Nga Trại, Đông Lâm bảo nhau phải giữ gìn, phát huy truyền thống đã
có từ bao đời.
Kết hôn sẽ càng bền chặt?
Khi tiếp xúc với các bạn trẻ trong làng Nga Trại,
dù không biết ngọn nguồn của tập tục trên nhưng họ nói về vấn đề này rất
hào hứng. Bạn Nguyễn Minh Châu tâm sự: “Đây là một điều đặc biệt để lại
cho con cháu. Ông cha mình giữ được, mình chắc cũng giữ được. Việc
không được lấy nhau, chưa nói đến đúng sai, đó là tục lệ cứ đời trước
truyền đời sau trong thời gian dài, đã thành truyền thống rồi thì nên
hiểu theo chiều hướng tốt đẹp. Là một người con của quê hương mình nên
phát huy”.
Tuy nhiên bạn Đinh Văn Hùng lại có quan điểm khác.
Hùng nói: “Đông Lâm, Nga Trại đã thể hiện tình nghĩa anh em keo sơn bền
chặt, nhưng nếu có đôi trai gái nào “phá lệ” thì bản thân tôi cũng không
phản đối. Bởi vì nếu họ yêu nhau thật lòng thì tại sao không đến được
với nhau. Với lại việc kết hôn không những không làm mất đoàn kết mà
càng làm cho hai làng càng có mối quan hệ bền chặt hơn. Nói việc anh em
không được lấy nhau thì thực chất có cùng huyết thống đâu, đó chỉ là anh
em kết nghĩa”.
Không biết tục lệ trai gái hai làng Nga Trại, Đông
Lâm không lấy nhau sẽ còn tồn tại đến bao giờ, nhưng có điều chắc chắn
rằng tình cảm của những người dân hai làng này với nhau thì sẽ nối dài
ra mãi mãi.
|
Vì sao quan họ không lấy nhau?
Trong các làng quan họ (Bắc Ninh), các liền anh,
liền chị hát đôi với nhau cũng không bao giờ yêu nhau hoặc lấy nhau. Đây
đã là một tập tục bất thành văn. Có người cho rằng nguồn gốc của tập
tục này bắt nguồn từ truyền thuyết rằng, thời xa xưa ở vùng Kinh Bắc có
người con gái đẹp, khi nhà vua đi đánh trận qua đây đã đem lòng yêu mến
mà mang về cung. Tuy nhiên sống trong cảnh cung cấm buồn bã, nàng xin về
quê, lập ấp, chiêu mộ dân binh. Đội dân binh này chỉ toàn nữ và bị
nghiêm cấm không được yêu đương. Nhưng do tuổi xuân phơi phới, các nàng
dân binh vẫn tìm cách gửi trao tâm tư qua những vần thơ, điệu ví với
những tráng đinh ở bên ngoài. Từ việc trao đổi tâm tư đơn thuần, việc
hát xướng đã dần nâng “trình” lên thành nghệ thuật, quan họ ra đời, với
hình thức hát đối đáp giữa các đội nam (liền anh) và đội nữ (liền chị).
Tuy nhiên, hát nhưng vẫn phải tuân thủ quy định cấm
yêu đương, kết hôn, lâu dần đã thành tập tục, các liền anh, liền chị
không bao giờ bước qua.
Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, truyền
thuyết này có điểm khá vô lý. Đã là “người của vua” thì sao có thể dễ
dàng xin về mà lập “đội dân binh”. Bên cạnh đó các tình tiết “nhà vua”
và “người con gái đẹp” rất mơ hồ, không có dù chỉ chút ít manh mối để
phỏng đoán “vua” và “cô gái đẹp” đó thuộc thời đại nào, là ai. Đây có
thể là một câu chuyện do dân gian tự nghĩ ra, để lý giải một tập tục và
chúng ta hãy chấp nhận nó, như nhiều truyền thuyết dân gian khác.
Cũng có ý kiến cho rằng, âm nhạc nói chung, nghệ
thuật quan họ nói riêng rất cần lửa. Ngọn lửa phải luôn luôn rực cháy
trong tim nghệ sĩ thì khi hát mới hay. Quan họ là hát giao duyên, nếu
cái “duyên” đã đạt được rồi thì không còn sự khát khao nữa. Người xưa
không muốn những nghệ sĩ của mình viên mãn trong tình yêu, tức là không
còn sự khát khao nên đã đề ra tập tục cấm yêu, cấm kết hôn giữa các đôi
quan họ. Tập tục này đã trở thành nét đặc trưng độc nhất vô nhị chỉ có ở
nghệ thuật hát quan họ.
Ngoài ra, tại các làng quan họ thường có tục kết
chạ khi đi hát, gần giống như hình thức kết nghĩa, mọi người coi nhau
như anh em, do vậy mà không có chuyện yêu đương hay lấy nhau.
Ngoài 3 đời mới được kết hôn
Theo Điều 10 của Luật Hôn nhân và gia đình thì việc
kết hôn bị cấm trong những trường hợp sau đây: Người đang có vợ hoặc có
chồng; Người mất năng lực hành vi dân sự; Giữa những người cùng dòng
máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; Giữa cha,
mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi,
bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ,
mẹ kế với con riêng của chồng; Giữa những người cùng giới tính.
H.T |
|
Vân Côn, Phú Hạng cũng không kết hôn
Tại làng Vân Côn (xã Vân Côn, Hoài Đức, Hà Nội) và
làng Phú Hạng (xã Tân Phú, Quốc Oai, Hà Nội) cũng có tục lệ trai gái hai
làng không được lấy nhau. Hai làng này chỉ cách nhau một bờ sông Đáy,
người dân hai làng coi nhau như ruột thịt, mọi khó khăn đều giơ tay,
chìa lưng gánh vác đỡ cho nhau. Sở dĩ trai gái hai làng không kết hôn là
vì gắn với một truyền thuyết. Tương truyền rằng, trước khi Hai Bà Trưng
khởi nghĩa, các tướng của Hai Bà đã đến dòng sông Hát Môn ăn thề.
Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, các tướng đã cùng Hai
Bà Trưng trẫm mình xuống dòng Hát Môn. Một trong số đó có nữ tướng ả Lã
Nàng Đê. Thi thể của bà trôi từ dòng Hát Môn xuống Hát Giang (sông
Đáy), đến Vân Côn rồi Phú Hạng thì mắc lại. Nhân dân đã vớt bà lên để an
táng, sau suy tôn là Mẫu, hai làng cũng kết nghĩa anh em từ đó. Do kết
nghĩa anh em nên trai gái hai làng không lấy nhau. Cũng như làng Đông
Lâm, Nga Trại ở Bắc Giang, nhiều đời nay dân hai làng Vân Côn, Phú Hạng
ứng xử với nhau rất tình cảm, chưa từng có vụ xích mích nào, còn chuyện
kết hôn thì càng không có ngoại lệ.
H. T |
Theo Gia đình & Xã hội