Tôi nhớ cái Tết thời còn chiến tranh, những người đồng hương gặp nhau ở chiến trường mừng lắm. Chỉ một đêm mắc võng nằm bên nhau, nhớ về Tết quê nhà nhớ những món ăn nôn nao đêm lạnh, lại nhớ đến những phiên chợ… Trong khoảnh khắc ấy tôi chợt nhớ thơ Hồng Nguyên, "Độc lập nhớ rẽ viền chơi với chắc".
Cái đêm áp Tết không ngủ ấy, ông bạn đọc cho tôi nghe một "bài thơ", tôi đồ chừng do chính anh sáng tác, nghe nó ngộ ngộ.
Rủ nhau xuôi ngược chợ Đàng
Vòng qua chợ Nướt, tạt ngang chợ Bàu
Sang Gôi, Choi rít thuốc lào
Chợ Hạ Linh Cảm, trầu cau cho bà
Theo bè xuôi bến Tam Soa
Giật mình nghe động tiếng gà Trường Yên…
Chợ cách nhà không mấy xa. Nhưng để đến được đó, cô cháu tôi phải đi dễ cả giờ. Gặp ai cô cũng chào. Dừng lại hỏi thăm. "mẹ cu nó sao rồi, cún con ham ăn chớ". "Bà đi chợ sớm". "Gánh chi nặng vậy con"…
Cứ chào hỏi, cứ dừng lại, chuyện nhà chuyện cửa. Mãi mới đến đước đầu cửa chợ. Mỗi khi cô dừng lại hỏi chuyện người nọ người kia, tôi xoay tròn để ngắm cho được những cánh buồm nâu đang căng phồng, dập dình theo sóng nước, thầm ao ước một lần đặt chân lên con thuyền lớn, rồi xuôi sông Lam, ngắm nhìn nương dâu bãi mía xanh ngút ngát đôi bờ Ngàn Phố Ngàn Sâu.
Thứ cô tôi đem bán là vài ba nải chuối tiêu, chuối hột. Mấy quả cam bù, cam chanh. Thứ cô tôi mang về là mấy chiếc bánh gai, vài thanh kẹo cu đơ dẻo quẹo, mấy xâu cá trích, vài con mắm khô, hũ mắm tôm, chai nước mắm. Trước khi ra về, cô tôi tạt vào quầy bánh đúc lạc. Gọi là quầy, là theo cách nói bây giờ, chứ nào có ai đâu ngoài một bà răng đen mặc quần thâm. Một nồi bánh đúc còn hôi hổi. Một vài lọ nước chấm. Bánh đúc được đưa vào bát rồi, tự kiếm chỗ ngồi mà xì xụp, khen ngon. Có những người ăn xong, ra về, chẳng thấy họ trả tiền. Tôi thấy lạ hỏi, nhưng cô tôi chỉ cười. Miệng cười của cô tôi rất tươi. Rõ là bát bánh đúc ngon miệng nên cô tôi vui hẳn lên. Tôi như vừa khám phá ra một chuyện: bánh đúc ăn giữa chợ ngon hơn bánh đúc nhà nhiều lắm. Cho đến bây giờ, đã quá nửa thế kỷ trôi qua, tôi vẫn có cảm giác như nước chấm bánh đúc hồi nào còn vương vất bên mép tôi. Mỗi lần nhớ về bà cô đã khuất, lại hiện lên trước mắt tôi góc chợ Nướt hồi nào thoang thoảng hơi bay. Bất chợt tôi hít hà thật sâu để tận hưởng vị bánh đúc có một không hai trong đời mình.
Nếu người Nam Định sinh ra chỉ để đi chợ thôi, có lẽ đi chợ cả đời.
Mồng bốn đi chợ Qua Ninh
Mồng năm chợ Trình, mồng sáu
Non Côi
Nghỉ ngày mồng bảy mà thôi
Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng
Nhìn vào chợ là nhận ra đặc sắc của một vùng quê. Những câu ca dao xưa gợi trong tôi những chợ đã một lần tôi đặt chân đến.
Chợ Nghè có món bún riêu
Bún cua, bún ốc, bún tiêu, bún gà
Bún đường bừa cái, sợi nó ngà ngà
Riêu cua đầy gạch đổ oà lên trên..
Còn vào Bình Định.
Em về mua vải chợ Gồm
Gò Găng mua nón, phiên Chàm anh sang
Tiện đường ghé chợ Cảnh An
Mua thêm chiếc võng cho nàng đưa con…
Nhưng cũng có nhiều chợ không mang dáng dấp chợ quê, như thông thường ta vẫn nghĩ "Chợ Viềng năm họp một phiên", là chợ cầu may vào dịp Xuân đến ở Nam Định. Chợ họp vào đầu đêm mồng 7 rạng sáng mồng 8 tháng giêng âm lịch là tan. Vẻ ngoài của chợ, đúng là chợ, nghĩa là có người mua kẻ bán. Nhưng đây là "bán rủi mua may". Họ không quan tâm nhiều đến vật mua đắt hay rẻ, mà là mua cái sự may đầu năm cho mình. Ngày nay nếu ai đó không còn tin vào may rủi, thì mua một vật gì đó mình thích, gọi là chút kỷ niệm đầu năm, kỷ niệm với chợ Viềng, một hình thái chợ độc đáo.
Ít năm nữa, chắc sẽ nhiều siêu thị mọc lên đây đó thay cho chợ quê, Những trung tâm thương mại sẽ khang trang, quy cũ. Nhưng có lẽ, chừng nào còn làng quê, thì chợ quê vẫn tồn tại cùng cư dân. Chợ đã gắn liền với nếp sống, tạo nên cộng đồng, tình nghĩa, tạo nên vẻ riêng của một vùng đất. Chợ quê thực sự là một trung tâm văn hóa làng, nơi giao lưu, liên kết ấm áp tình làng nghĩa xóm, một nét riêng độc đáo, không thể thiếu vắng trong bức tranh thôn giã làng quê Việt.
Đoàn Tử Diễn