Chúng ta đều biết, luật tồn tại để mang lại trật tự cho xã hội, công bằng, tự do cho con người. Tất nhiên, luật không phải lúc nào cũng phù hợp với hoàn cảnh thực tại, nhất là khi mối quan hệ của con người với con người trong thời đại ngày càng phát triển, quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả xã hội cũng phức tạp, đa dạng hơn. Vì vậy, việc điều chỉnh, thay đổi một số quy định, để luật pháp phù hợp với thực tế cuộc sống là điều cần thiết.
Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin nêu một số vụ việc đã xảy ra, tạo nên tác động xấu cho xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Nhưng phía cơ quan tiến hành tố tụng hình sự lại rất khó khăn và lúng túng trong việc xử lý. Bởi những trường hợp này pháp luật chưa quy định, hoặc quy định còn bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống hiện nay, gây ra sự hiểu nhầm của nhân dân đối với hoạt động đúng đắn của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Bà Nguyễn Thị B và bà Phan Thị T (TP Vinh, Nghệ An) quan hệ bạn bè với nhau đã nhiều năm. Khi nghe bà T trình bày những khó khăn trong việc kinh doanh của mình, bà B thông cảm và giúp đỡ bạn mình bằng cách thế chấp căn nhà đang ở cho ngân hàng để vay 1 tỷ đồng cho bạn. Sau một năm, bà T. không trả lại tiền cho bà B như đã cam kết trước khi mượn tiền. Đến hạn, ngân hàng kê biên ngôi nhà của bà B, bởi đây là tài sản thế chấp khi vay tiền. Vậy là cả gia đình bà B phút chốc rơi vào cảnh không nhà, vợ chồng mâu thuẫn. Về phía bà T đã phớt lờ việc vay tiền của bạn, không trả tài sản theo cam kết, còn gây ra hậu quả và nhiều hệ lụy đối với gia đình bà B nhưng cơ quan chức năng không thể xử lý hình sự đối với bà ta được. Bởi theo quy định pháp luật, hành vi chiếm đoạt tài sản của bà T chỉ cấu thành tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" khi đủ các điều kiện như: Bỏ trốn, dùng thủ đoạn gian dối, sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp... Việc bỏ trốn là một vấn đề cần xem xét, vì bà T không bỏ trốn theo nghĩa mà cơ quan tố tụng hiểu, không đi khỏi địa phương, mà chỉ trốn tránh, không gặp gỡ, không nghe điện thoại. Yêu cầu phải xác định ý thức chiếm đoạt rất khó khăn, bởi bà T không bao giờ thể hiện ý định chiếm đoạt số tiền đã vay mà vẫn thừa nhận: "Tôi có nợ bà B và tôi sẽ trả nợ khi có điều kiện". Việc chứng minh của cơ quan tố tụng đối với bà T có gian dối không, sử dụng tiền vay vào mục đích gì thì gần như không thể. Nên rút cục, vụ việc trên trở thành một vụ tranh chấp dân sự, bà B bị mất nhà và trở nên trắng tay do quá tin bà T.
Chị Lê Thị Bích Ngọc Thủy, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương kết hôn và có một con trai hơn 1 tuổi. Thế nhưng, sau khi chồng chị mất, bố mẹ chồng (ở TP Vinh, tỉnh Nghệ An) đã bắt giữ con trai và không cho hai mẹ con được gặp nhau. Đã hơn hai năm, chị Thủy gửi nhiều đơn kêu cứu lên các cơ quan chức năng, mong được giúp đỡ, đòi lại đứa con 3 tuổi cho mình. CATP Vinh đã nhận đơn và xác minh sự việc theo đơn thư của công dân, sau nhiều lần triệu tập ông bà nội lên làm việc, ông bà vẫn không chịu trả lại cháu bé cho người mẹ hợp pháp này. Xét về hiện tượng, thì đây là hành vi chiếm đoạt trẻ em được quy định tại Điều 120 Bộ luật Hình sự. Và đến thời điểm hiện tại, chỉ duy nhất chị Lê Thị Bích Ngọc Thủy là người đại diện về mặt pháp luật cho cháu bé và có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng con mình, ông bà nội hay ngoại không có quyền định đoạt việc ai được nuôi dưỡng cháu bé 3 tuổi này. Nếu muốn được nuôi cháu bé, thì ông bà phải thương lượng bằng tình cảm với chị Lê Thị Bích Ngọc Thủy và được sự đồng ý của chị. Vì vậy, hành vi bắt giữ cháu bé của ông bà nội dưới bất kỳ hình thức nào, động cơ gì mà không được sự cho phép của chị Thủy - mẹ của cháu - là vi phạm quyền nuôi con hợp pháp của người mẹ. Nhưng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh này, cần phải chứng minh được hành vi chiếm đoạt cháu bé nói trên nhằm mục đích và động cơ xấu. Bắt buộc phải xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra.
Khi chiếu theo các quy định hiện hành của luật, thì hành vi bắt giữ cháu bé nói trên của ông bà nội chưa thể cấu thành tội phạm hình sự, nên các cơ quan chức năng lúng túng không thể xử lý được, đành phải chuyển hồ sơ sang Tòa án nhân dân giải quyết theo luật dân sự. Nhưng Tòa án cũng không thể tiếp nhận, giải quyết tranh chấp quyền nuôi con trong vụ việc này. Bởi chồng chị Thủy (bố của cháu bé) đã chết, quyền nuôi con mặc nhiên thuộc về người mẹ, ông bà nội không thuộc đối tượng được tranh chấp quyền này với mẹ cháu bé. Vậy là sau 2 năm chờ đợi, hệ thống tư pháp cũng không thể can thiệp, quyền được nuôi con của người đàn bà này đã không được các cơ quan chức năng bảo vệ. Không còn cách nào khác, chị Thủy đành phải đòi lại con bằng cách thuê người giành lại đứa con trai từ tay ông nội khi đang trên đường đưa cháu đi học về. Rõ ràng đây là những mâu thuẫn, xung đột mới xuất hiện trong cuộc sống, tạo ra những khoảng trống của pháp luật hiện nay.
Việc quy định về độ tuổi trong Bộ luật Hình sự từ 16 đến dưới 18 tuổi là người chưa thành niên cũng không còn phù hợp với xã hội. Ở tội danh "Giao cấu với trẻ em" cũng cần phải xem xét lại khi quy định về mặt khách thể là trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Cách đây mấy năm, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử vụ án "Giao cấu với trẻ em". Sự việc bắt nguồn từ sự thiếu hiểu biết pháp luật, nên họ trở thành vợ chồng khi người con gái chưa đủ 16 tuổi, dẫn đến chồng trở thành bị cáo, đứng trước vành móng ngựa, vợ anh trở thành người bị hại. Khi tòa nghị án, cả bị cáo và bị hại cùng âu yếm, chuyền tay nhau đứa con nhỏ trên tay. Hiện người chồng đã hết hạn tù, trở về chung sống với vợ. Đứa con nhỏ năm nào bây giờ đã bắt đầu vào lớp một. Vậy phiên tòa đó diễn ra để bảo vệ và trừng phạt ai?
Chúng ta đều thấy rằng: Con người mấy chục năm trước, khác xa với con người thế kỷ 21. Sự phát triển về hình dáng cơ thể, tâm sinh lý và nhận thức của trẻ em 13 tuổi đến dưới 16 tuổi bây giờ hơn hẳn lứa tuổi này trước đây rất nhiều lần. Nên quy định độ tuổi về mặt khách thể của tội phạm ở một số tội danh trong Bộ luật Hình sự như hiện nay đã lỗi thời và không còn phù hợp với điều kiện xã hội nữa. Về quy định tuổi vị thành niên cũng cần phải xem xét lại. Mới nhất là vụ án giết người, cướp của ở Bắc Giang gây xôn xao và phẫn nộ trong xã hội. Nhưng Lê Văn luyện- thủ phạm của vụ thảm sát này chỉ chịu mức án 18 năm tù giam theo quy định của pháp luật, vậy liệu với hành vi và mức độ tội ác trên có còn tương xứng với tuổi vị thành niên nữa hay không?
Qua những vụ việc cụ thể trên đây, rõ ràng đang có những khoảng trống còn tồn tại, một số quy định trong hệ thống pháp luật hiện nay chưa theo kịp được thực tế cuộc sống. Chính vì vậy, xuất hiện các dạng tội phạm mới như: Đòi nợ thuê, giành lại quyền nuôi con, giải quyết tranh chấp kinh tế v.v... nhằm khỏa lấp các khoảng trống trong hệ thống luật, giải quyết nhanh gọn các mâu thuẫn, xung đột trong xã hội mà pháp luật chưa thể điều chỉnh được. Vì vậy, việc xem xét lại độ tuổi, cách định lượng, cụ thể hóa các quy định để xóa đi các khoảng trống trong Bộ luật Hình sự hiện nay là điều cơ quan lập pháp cần phải xem xét. Thường xuyên có sự điều chỉnh kịp thời để luật luôn theo sát với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với xã hội, tránh gây ra sự lúng túng, thiếu nhất quán trong hoạt động tố tụng, làm mất đi tính nghiêm minh của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thế Sơn