Sau quãng thời gian tranh cãi pháp lí dài 6 tháng, Arohn Kee bị dẫn độ về New York và đối mặt với phiên tòa xét xử 22 trọng tội liên quan đến bốn vụ cưỡng bức và giết người với các nạn nhân là Paola Illera, Johalis Castro và Rasheeda Washington. Bằng chứng DNA gắn kết Kee với sáu trong bảy vụ án. Trong vụ thứ bảy, vụ Kee giết hại Illera, một sợi lông ở chỗ kín của nghi can được phát hiện trên cơ thể nạn nhân và đã được lưu trong phòng tang chứng suốt 9 năm.
Các công tố viên John Irwin và Richard Plansky đã đưa ra một loạt những lời khai và bằng chứng DNA chống lại Kee trong phiên tòa diễn ra vào mùa Thu năm 2000. Họ gọi tổng cộng 130 nhân chứng, trong đó có hai nạn nhân bị cưỡng bức. Theo lời tự biện hộ, Kee tuyên bố mình đã bị cảnh sát gài bẫy để che giấu âm mưu buôn bán nội tạng người. Tuy nhiên, bồi thẩm đoàn đã không chấp nhận lời giải thích này. Khi đại diện đoàn bồi thẩm đứng lên đọc tuyên bố có tội, cả phòng xét xử đã vỡ òa trong tiếng vỗ tay và những lời ủng hộ. Còn ở bên ngoài phòng xét xử, nhiều thân nhân các nạn nhân của Kee đã chỉ trích những phóng viên và đòi được biết tại sao phần lớn các tòa báo đã bỏ qua những vụ tấn công này khi nó mới xảy ra.
Cung cấp thông tin dẫn đến việc bắt giữ Arohn Kee của cảnh sát New York Ảnh: TL
Một tháng sau đó, tại phiên tuyên án diễn ra vào tháng 1-2001, bị cáo Arohn Kee đã mất hết sự trơ tráo. Hắn bắt đầu khóc và nấc nghẹn: "Tôi xin lỗi". Rốt cuộc Thẩm phán Joan Sudolnick trước khi đọc bản án dành cho kẻ cưỡng bức và giết người hàng loạt ở Đông Harlem đã nói: "Tôi không biết phải nói gì với kẻ không hề có tâm hồn, không hề có lương tri, đạo đức hay trái tim. Hình phạt dành cho Kee là ba án tù chung thân không được ân xá với các tội trong 3 vụ giết người cùng 400 năm ngồi tù với các tội trong bốn vụ cưỡng bức.
Thực tế cho thấy việc truy tố nghi can Arohn Kee là một bước ngoặt trong việc sử dụng bằng chứng DNA của cảnh sát New York. Bởi trước đó, cảnh sát từng truy tố hai đối tượng khác phạm tội trong các vụ cưỡng bức và giết người mà Kee gây ra. Dù luật sư của Kee cho rằng cách thức các nhà điều tra lấy mẫu DNA của thân chủ là bất hợp pháp, song Thẩm phán Sudolnick đã ủng hộ việc sử dụng bằng chứng này. Thậm chí, ông cho rằng vụ việc Kee là một ví dụ cho thấy sự cấp thiết phải xây dựng một kho lưu mẫu DNA của các cơ quan chức năng. Nếu mẫu gene của Kee được lưu lại khi hắn bị bắt giữ vì tội trộm cướp hồi năm 1990, chắc chắn nhiều nạn nhân của hắn đã không bị hại.
Vào thời điểm Kee bị kết án, các nghị sĩ ở New York và nhiều bang khác đã thông qua những đạo luật cho phép xét nghiệm mẫu DNA đối với những nghi can bị bắt giữ với những cáo buộc phạm tội ác liên quan đến bạo lực. Kể từ đó đến nay, việc lấy mẫu DNA đã được mở rộng trong hầu hết những nghi can phạm trọng tội, thậm chí còn cả ở một số đối tượng bị bắt vì phạm tội nhẹ ở Mỹ.
Đào Diệu (tổng hợp)