Báo cáo đánh giá tác động của mô hình trường học mới: Phụ huynh ủng hộ

Cập nhật: 14:15 | 12/09/2017
(PL&XH) - Mới đây, Ngân hàng thế giới đã chính thức công bố kết quả đánh giá tác động mô hình trường học mới (VNEN) khi triển khai tại Việt Nam. Khác với những tranh cãi trái chiều trước đó, báo cáo này cho thấy phụ huynh nông thôn vẫn ủng hộ VNEN và thậm chí học sinh học theo mô hình VNEN còn có kết quả cao hơn học theo mô hình truyền thống.

Báo cáo này dựa trên công trình của đội ngũ chuyên gia thuộc Ngân hàng Thế giới (WB) với sự hỗ trợ, động viên và sự tham gia của Bộ GD&ĐT Việt Nam, Quỹ Dubai Cares, Chương trình Hợp tác Giáo dục toàn cầu (GPE) và Viện Nghiên cứu phát triển Mekong.

Theo báo cáo, VNEN được Bộ GD&ĐT Việt Nam triển khai vào năm 2011- 2012 tại 6 tỉnh thành trên 3 khu vực Bắc, Trung và Nam; bao gồm 48 lớp học. Sự đón nhận từ phía cộng đồng là rất lớn, tạo ra động lực để lãnh đạo Bộ mở rộng VNEN trên phạm vi toàn quốc. Việt Nam có đủ điều kiện để nhận tài trợ từ Tổ chức Hợp tác toàn cầu về giáo dục (GPE) - tổ chức này được ủy nhiệm để tài trợ ngân sách cho các nước nhằm đạt mục tiêu giáo dục cho mọi người vào năm 2015.

1
Báo cáo mới nhất của WB đã chỉ rằng VNEN vẫn được đa số phụ huynh ủng hộ và kết quả học tập của học sinh theo mô hình VEN khá tốt. ẢNH TƯ LIỆU

 

Sau mấy năm triển khai, có nhiều ý kiến từ các địa phương cho rằng học theo mô hình VNEN: Tự quản, học theo nhóm, bài minh họa đa dạng… khó khăn đối với giáo viên và học sinh trường chưa đủ điều kiện cơ sở vật chất và nhân lực. Không những thế, có phụ huynh còn viết đơn đề nghị cho con không học theo VNEN. Theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, việc áp dụng VNEN là hoàn toàn tự nguyện từ các trường và Bộ đề nghị kiên quyết không triển khai VNEN nếu cơ sở địa phương không đủ các điều kiện áp dụng.

Nhưng báo cáo mới đây của WB đã cho thấy nhiều kết quả khá bất ngờ. Được biết, khi đánh giá về thái độ của phụ huynh về VNEN, theo báo cáo cho thấy:  Số liệu cho thấy rằng phần lớn cha mẹ học sinh ủng hộ VNEN. Phụ huynh ủng hộ VNEN vì theo họ VNEN mang tới hiệu năng học tập cho các em cũng như các kỹ năng khác như giao tiếp, lãnh đạo và tổ chức. Phụ huynh VNEN phần lớn là nông dân, và chỉ rất ít trong số đó có bằng cấp 3.
Tuy nhiên họ rất tích cực tham gia vào giáo dục cho con em mình và có nhận thức tốt, chi tiết về phương pháp VNEN, ví dụ như Hội đồng tự quản học sinh.

Cũng theo báo cáo, điểm thi của môn Tiếng Việt và Toán cho thấy học sinh của VNEN có sức học bằng hoặc hơn học sinh ở lớp học truyền thống. Điểm số của học sinh VNEN cũng như các trường nhóm kiểm soát tăng lên khi các em lên lớp cao hơn.

Cũng theo báo cáo này, học sinh VNEN có điểm trung bình cao hơn ở mốc cơ sở của nghiên cứu - 18 tháng sau khi bắt đầu dự án. Khác biệt này được duy trì qua các năm, mặc dù có sự thu hẹp dần lại trong hai năm sau. Sự chênh lệch về học lực của học sinh trong nhóm các trường VNEN có liên quan đến sự thay đổi cường độ học tập của chương trình.

Báo cáo cũng ghi rõ: VNEN đã có những tác động tích cực đến việc phát triển kĩ năng nhận thức và phi nhận thức của trẻ em Việt Nam, cần được công nhận và thông báo cho tất cả các bên liên quan.

Chi phí của toàn bộ chương trình vào khoảng 85 triệu USD và mang lại lợi ích cho khoảng nửa triệu học sinh trong suốt bốn năm, chưa kể các em học sinh được hưởng lợi trong tương lai.

Các em học sinh có các hoạt động khám phá và thảo luận mang tính sư phạm nổi bật hơn, cũng như có thêm các cơ hội thực hành và giải quyết vấn đề thông qua cả hoạt động cá nhân và tập thể.

Trong khi học sinh VNEN thường có thời lượng hoạt động cá nhân tương tự như học sinh mô hình truyền thống, có một điểm khác biệt rõ ràng là lớp học VNEN dành nhiều thời gian cho hoạt động của nhóm hơn là hoạt động cả lớp. Vì bài tập nhóm cho phép các quá trình nhận thức diễn ra nhiều hơn so các hoạt động chung của cả lớp, nên lớp học VNEN có thể mang lại hiệu quả giảng dạy cao hơn.

Mặc dù có sự khác biệt giữa các trường học và trong các lớp học, các trường học VNEN cung cấp thêm rất nhiều không gian cho học sinh phát triển và thực hành các kỹ năng thế kỷ XXI như lãnh đạo, làm việc theo nhóm và học tập hợp tác, giao tiếp và tự học.

Nam Dương / PL&XH