Chủ trương của Đảng và pháp luật, chính sách của Nhà nước nhằm bảo đảm thực hiện các quyền dân sự, chính trị

Cập nhật: 13:30 | 12/06/2018
Đối với quyền sống: Nhằm nâng cao hiệu quả pháp lý thực hiện quyền này, Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009, chương XII đã có những quy định về một số tội phạm xâm phạm tính mạng con người. Ở Việt Nam, hình phạt tử hình vẫn còn duy trì nhằm phòng, chống các loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm.

Tuy vậy, pháp luật về hình sự Việt Nam đã có những quy định chặt chẽ, nhằm tránh áp dụng hình phạt này một cách tùy tiện, chủ quan. Điều 35, Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

Không áp dụng hình phạt tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, đối với phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi phạm tội hoặc khi xét xử. Trong trường hợp này hình phạt tử hình chuyển thành tù chung thân.

Điều 258, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2013 cũng đã quy định: Bản án tử hình được thi hành nếu không có kháng nghị của Chánh án TAND tối cao hoặc Viện trưởng VKSNDTC theo thủ tục giám đốc thẩm. Trong trường hợp người bị kết án xin ân giảm tử hình thì bản án tử hình chỉ được thi hành sau khi Chủ tịch nước bác đơn xin ân giảm.

the che duong loi chu truong cua dang va phap luat chinh sach cua nha nuoc nham bao dam thuc hien cac quyen dan su chinh tri
Hội nghị lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Tố cáo (sửa đổi) của đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội. ảnh: X. Thanh

Thực tế xu hướng hạn chế áp dụng án tử hình đã được quan tâm trong Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Việt Nam. Ngày 19-6-2009, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự năm 2009, trong đó bỏ hình phạt tử hình 4 tội danh: Tội hiếp dâm (Điều 111); tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (Điều 180); tội chiếm đoạt máy bay, tàu thủy (Điều 221); tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 334).

Đối với quyền khiếu nại, tố cáo: Hiện nay khiếu nại, tố cáo có nhiều diễn biến phức tạp; không chỉ gia tăng về số lượng, mà còn cả về tính chất và sự đa dạng về lĩnh vực khiếu tố, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, hoạt động tư pháp, tham nhũng.

Nhằm bảo đảm tốt hơn quyền này, các cơ quan Đảng, Nhà nước từ Trung ương đến địa phương, cơ sở đã có nhiều nỗ lực trong việc bố trí cán bộ có năng lực và đổi mới công tác tiếp dân, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền, cải tiến phương thức nhận và trả lời đơn thư….

Gần đây, Luật Khiếu nại tố cáo năm 1998, được sửa đổi, bổ sung trong các năm 2004, 2005 đã được tách thành 2 luật riêng: Luật Khiếu nại (2011) và Luật Tố cáo (2011). Đây được xem như một giải pháp tích cực nhằm tạo thuận lợi cho người dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo phù hợp với quy định của Hiến pháp, đường lối, chủ trương, pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Đối với các quyền tự do cư trú, đi lại: Quyền này đã được thể chế hóa cụ thể trong Luật Cư trú (2006 sửa đổi, bổ sung năm 2013). Trong Luật Nhà ở (2005),

Điều 4 quy định: Công dân có quyền có chỗ ở theo quy định của pháp luật. Người tạo lập nhà ở hợp pháp có quyền sở hữu đối với nhà ở đó.

Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, Quốc hội khóa XII đã sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở, theo đó: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:

1) Người có quốc tịch Việt Nam;

2) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; 3) Người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hóa, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam;

4) Người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.

Xuân Thanh