Công ước uốc tế về quyền được thừa nhận là thể nhân trước pháp luật

Cập nhật: 17:12 | 04/06/2018
Điều 16 ICCPR quy định: “Mỗi người đều có quyền được công nhận là thể nhân trước pháp luật ở bất kỳ nơi nào.”...

Theo đó, tư cách thể nhân là đương nhiên và vô thời hạn, tức là mọi người được coi là thể nhân từ khi họ sinh ra đến lúc chết đi. Ngay từ lúc một người được sinh ra, người đó đã có tư cách là một cá thể trước cộng đồng xã hội và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ tại bất cứ nơi đâu cho đến khi người đó chết.

Trong lịch sử xã hội loài người, không phải thời kỳ nào con người cũng được xác lập tư cách thể nhân. Tư cách thể nhân trước pháp luật ở các giai đoạn lịch sử khác nhau của xã hội loài người, xét cho cùng chính là nằm ở việc nhà nước và pháp luật xác định tư cách con người trong xã hội đó.

Trong thời kỳ xã hội chiếm hữu nô lệ, đây là một xã hội điển hình cho một xã hội bất bình đẳng trong việc xác lập tư cách thể nhân trước pháp luật. Thời kỳ này người nô lệ không được coi là một con người mà chỉ là công cụ biết nói thuộc sở hữu của chủ nô. Nói cách khác, xã hội chiếm hữu nô lệ chỉ coi giai cấp chủ nô là có tư cách thể nhân và mọi quyền hành đều nằm trong tay giai cấp này.

cong uoc uoc te ve quyen duoc thua nhan la the nhan truoc phap luat
(ảnh minh họa)

Lịch sử chỉ ra rằng, hợp thành xã hội cũng là bản chất tự nhiên của con người để phân biệt với các sinh vật không phải là con người. Tính xã hội của con người làm phát sinh nhu cầu về việc xác lập tư cách thể nhân. Bởi lẽ, xã hội loài người chỉ có thể tồn tại một cách trật tự khi có điều kiện: mọi cá nhân trong xã hội đều được những thành viên khác thừa nhận với tư cách là con người trong mọi mối quan hệ xã hội.

Chính vì vậy, việc xác lập tư cách thể nhân trong xã hội là việc vô cùng quan trọng, lúc này người đó được thành viên khác, xã hội và nhà nước đối xử như là một thành viên trong xã hội có đầy đủ các phẩm chất, các quyền của một con người: quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc…

Pháp luật Việt Nam có qui định mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau. Người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp xác định người đó không có hoặc bị hạn chế năng lực hành vi theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực cụ thể, mà độ tuổi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ trong các quan hệ như lao động, hôn nhân và gia đình, thực hiện quyền ứng cử và bầu cử có thể có quy định khác.

Bạch Dương