Cuộc chiến của Mỹ ở Afghanistan: Từ chiến thắng vang dội đến bế tắc

Cập nhật: 10:18 | 26/08/2017
(PL&XH) - Sau 16 năm, cuộc chiến của Mỹ ở Afghanistan đã khiến cho những kẻ nổi dậy tại đất nước này trở nên mạnh hơn bao giờ hết, còn tương lai của quốc gia Nam Á này trở nên bất định. Trong bối cảnh Mỹ đang "sa lầy" tại Afghanistan, Tổng thống Mỹ Donald Trump sẽ phải vạch ra một chiến lược cho quốc gia này. Tuy nhiên, Afghanistan vốn được coi là "bãi mìn" bẫy các cường quốc và khó có thể tìm được một giải pháp dễ dàng cho tình hình tại đây.

Cuộc chiến chưa bao giờ kết thúc

Cuộc chiến ở Afghanistan là cuộc chiến dài nhất của nước Mỹ, bắt đầu bằng việc các lực lượng do Mỹ dẫn đầu nhanh chóng lật đổ chế độ Taliban và tiêu diệt các thủ lĩnh của mạng lưới khủng bố al-Qaeda, những kẻ chủ mưu vụ tấn công khủng bố ngày 11-9-2001 nhằm vào nước Mỹ. Có thể nói, cuộc chiến này của Mỹ chưa bao giờ kết thúc. Trong những năm gần đây, tình hình an ninh ở Afghanistan đã trở nên xấu đi nghiêm trọng do những kẻ nổi dậy Taliban - vốn tìm được nơi ẩn náu tại Pakistan - đã củng cố được lực lượng trên khắp đất nước. Tại Afghanistan, các hoạt động buôn bán heroin "mọc lên như nấm" giới quan chức tham nhũng, đấu đá nội bộ... tất thảy đã khiến cho các rắc rối càng thêm trầm trọng. ÔngTrump là vị tổng thống thứ ba của nước Mỹ phải vật lộn để tìm lời giải cho "bài toán hóc búa" Afghanistan.

Gần một tháng sau khi xảy ra các cuộc tấn công khủng bố ngày 11-9, Mỹ đã mở một chiến dịch không kích rầm rộ nhằm vào các tay súng al-Qaeda, phiến quân Taliban, các trại huấn luyện cũng như các căn cứ phòng không của chúng. Các lực lượng chống Taliban thuộc Liên minh phương Bắc tiến vào thủ đô Kabul, còn các phiến quân Taliban thì tháo chạy.

Tháng 12-2001, tại TP Bonn của Đức, các phe nhóm của Afghanistan đã đạt được thỏa thuận thành lập chính phủ lâm thời. Khi Afghanistan được giải phóng khỏi sự kiểm soát của Taliban, Mỹ đã tăng quân số tại Afghanistan lên tới 2.500 binh lính, với nhiệm vụ truy tìm thủ lĩnh al-Qaeda là Osama bin Laden tại khu vực đồi núi Tora Bora. Tuy nhiên, tên này vẫn trốn thoát. Tổng thống Mỹ khi đó là George W. Bush một mặt vẫn duy trì các nỗ lực tái thiết Afghanistan, một mặt mở rộng các chiến dịch chống khủng bố. Vào cuối năm 2002, có tới 9.700 binh lính Mỹ đồn trú tại Afghanistan.

Tháng 11-2004, Hamid Karzai - trên cương vị là người đứng đầu chính phủ lâm thời của Afghanistan trong 2 năm - đã giành chiến thắng áp đảo trong cuộc bầu cử tổng thống trực tiếp đầu tiên ở Afghanistan. Chính quyền Bush đã hoan nghênh kết quả cuộc bầu cử nói trên, coi đây là động thái quan trọng trong tiến trình thay đổi của quốc gia này. Hàng triệu bé gái đã được quay trở lại trường học sau một thời gian dài bị cấm dưới thời Taliban. Khi đất nước này mở cửa, viện trợ của phương Tây đã giúp nền kinh tế Afghanistan phát triển, ít nhất là tại các khu vực đô thị. Tuy nhiên, lực lượng Taliban - vốn tìm được nơi ẩn náu tại Pakistan - có dấu hiệu hoạt động trở lại, mở các cuộc tấn công lẻ tẻ nhằm vào các lực lượng chính phủ ở Đông Afghanistan.

Năm 2006, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) nhận trách nhiệm đảm bảo an ninh cho toàn bộ đất nước Afghanistan, đổ quân vào thành trì của Taliban ở phía Nam nước này. Mỹ cũng tăng quân ở Afghanistan lên tới 30.000 binh lính. Anh, Canada và một số nước khác cũng góp quân. Tuy nhiên, tình trạng bạo lực và hỗn loạn vẫn ngày càng trở nên tồi tệ. Hoạt động sản xuất thuốc phiện đã tăng ở mức cao kỷ lục, là nguồn thu chính của những kẻ nổi dậy và làm giàu cho các quan chức tham nhũng. Căng thẳng gia tăng giữa Afghanistan và Pakistan do các cuộc tấn công xuyên biên giới của Taliban. Năm 2008, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân, Đô đốc Mike Mullen, thừa nhận: "Tôi không chắc chúng ta sẽ chiến thắng".

Năm 2009, Tổng thống Barack Obama bước vào Nhà Trắng với tuyên bố sẽ thay đổi trọng tâm của Mỹ tại Afghanistan, theo đó chuyển sang chiến lược chống nổi dậy - được đưa ra nhằm bảo vệ dân thường Afghanistan - chứ không phải là truy lùng Taliban nữa. Ông Obama đã nhanh chóng điều thêm 21.000 quân. Sau một thời g ian dài xem xét lại chính sách, ông Obama đã ra lệnh tăng 21.000 quân. Sau khi chính sách được xem xét kéo dài, Obama đã ra lệnh tăng thêm quân, đưa lực lượng Mỹ lên tới con số 100.000 người vào tháng 8-2010. Ông tuyên bố Mỹ sẽ bắt đầu rút các lực lượng Mỹ vào năm 2011.

Tháng 3-2011, trong một chiến dịch đặc biệt của Mỹ tấn công bất ngờ ở Pakistan, bin Laden đã bị tiêu diệt. Sau đó, Tổng thống Obama đẩy mạnh kế hoạch trao trọng trách đảm bảo an ninh cho lực lượng Afghanistan vào năm 2014. Vào cuối năm đó, NATO cũng chấm dứt sứ mệnh tại Afghanistan. Tuy nhiên, quan hệ giữa Tổng thống Afghanistan Karzai với phía Mỹ xấu đi. Cuộc bầu cử gây tranh cãi nhằm "hất cẳng" ông Karzai đã "dựng lên" một nhà lãnh đạo mới thân Mỹ hơn, đó là ông Ashraf Ghani, nhưng chính phủ của ông này bị chia rẽ sâu sắc.

Trong bối cảnh tình trạng bạo lực gia tăng mạnh mẽ sau năm 2001 và các lực lượng an ninh Afghanistan bị thương vong lớn, ông Obama đã lùi thời hạn rút toàn bộ quân Mỹ sang cuối năm 2016. Tuy nhiên, ông Obama rời Nhà Trắng khi quân đội Mỹ vẫn còn 8.400 người ở Afghanistan.

Trong 7 tháng cầm quyền đầu tiên, ông Trump hầu như không nhắc gì đến Afghanistan, trong khi quân đội Mỹ "đứng ngồi không yên”. Lầu Năm Góc đề xuất điều thêm gần 4.000 quân Mỹ để tăng cường huấn luyện cho các lực lượng Afghanistan và thực hiện các chiến dịch chống khủng bố,  nhưng chính quyền Trump hiện vẫn bị chia rẽ về chiến lược này. Gần đây, nhiều người cho rằng cuộc chiến ở Afghanistan đã bế tắc, và một vài người trong Chính quyền của ông Trump mạnh dạn đề xuất rút quân hoặc bàn giao toàn bộ công việc của Mỹ tại Afghanistan cho các "nhà thầu" an ninh tư nhân.

Anh
Lính Mỹ ở Afghanistan. Ảnh tư liệu



“Bình mới, rượu cũ”?

Sau khi Tổng thống Trump công bố chiến lược mới ở Afghanistan, một số chuyên gia nghiên cứu cho rằng chính sách Afghanistan của Mỹ chỉ là "bình mới, rượu cũ”. Theo các chuyên gia, chiến lược mới của Mỹ ở Afghanistan đã cho thấy rõ ràng Mỹ sẽ ở lại trong khu vực này trong khoảng thời gian "không xác định". Ngoài việc nói rằng "Pakistan tạo ra nơi ẩn náu an toàn cho các tổ chức cực đoan, bạo lực và khủng bố" Mỹ cũng cảnh báo thêm rằng họ sẽ tấn công vào bất kỳ địa điểm và thời gian nào được lựa chọn mà không cần cảnh báo trước. Điều này cũng cho thấy tình trạng quan hệ hiện tại giữa Pakistan và Mỹ. Chính sách của Mỹ không chỉ làm nổi bật mối quan hệ giữa Pakistan và Afghanistan mà còn làm sáng tỏ mối quan hệ giữa Mỹ và Ấn Độ bằng cách cho thấy Washington muốn New Delhi cung cấp sự hỗ trợ về kinh tế và phát triển trong khu vực -  vấn đề Pakistan cần quan tâm.

Cựu Ngoại trưởng Pakistan Sardar Asif Ahmad Ali nhận định rằng chính sách Afghanistan của chính quyền Trump là “bình mới, rượu cũ” và chắc chắn không thành công như trước đây. Ông nói: "Họ (Mỹ) đã nghiền nát Afghanistan và đang cố gắng đẩy thất bại của họ sang Pakistan. Nhưng họ không có quyền bắt chúng ta biết phải làm gì. Đã đến lúc Mỹ nên biết rằng chính sách của mình đã thất bại và ngừng tiếp diễn những sai lầm như vậy”. Theo nhận định của nhà phân tích quân sự, Tiến sĩ Hassan Askari Rizvi, thời gian "lưu trú" không hạn định của quân đội Mỹ ở Afghanistan có nghĩa họ sẽ không những gia tăng thời gian lưu trú mà còn tham gia vào các hoạt động chống các tổ chức khủng bố như Taliban, al-Qaida và Nhà nước Hồi giáo (IS). Tuy nhiên, cho dù lên tiếng chỉ trích nhưng Mỹ sẽ không từ bỏ Pakistan và ngược lại Pakistan cũng sẽ không chấm dứt quan hệ với Mỹ.

Trong khi đó, Tướng Ghulam Mustafa nhận định rằng chính sách Afghanistan của chính quyền Trump không có gì mới so với các chính sách trước đó. Ông nói: "Mỹ đã nhận ra rằng không thể xóa bỏ mớ hỗn độn này, vì vậy họ đang cố gắng đổ lỗi cho Pakistan, điều mà họ luôn muốn làm. Họ nghĩ rằng họ có thể kết thúc bằng cách gắn Ấn Độ trong vấn đề này, nhưng họ đã nhầm vì không thể bỏ qua Pakistan nếu họ muốn có được hòa bình”. Đề cập đến sự phụ thuộc vào Mỹ của Pakistan, ông Mustafa nói: “Mỹ đã nhầm khi cho rằng Pakistan vẫn phụ thuộc vào họ. Họ cần phải vượt qua suy nghĩ này. Đã đến lúc Pakistan bắt đầu tự bảo vệ mình trước những gì xảy ra hơn là hoảng sợ về những gì Donald Trump tuyên bố. Chúng ta không nên quên rằng dự án Hành lang kinh tế Trung Quốc-Pakistan (CPEC) đang trong tiến trình và đó là một lý do lớn để Mỹ ở lại khu vực.

Nhà phân tích Quốc phòng Brig Farooq Hameed thì cho rằng Pakistan nên ghi nhớ bài học "không bao giờ chiến đấu với những cuộc chiến tranh khác”. Chính quyền Islamabad đã mắc sai lầm khi trở thành đồng minh của Mỹ trong cuộc thánh chiến ở Afghanistan cũng như trong cuộc chiến chống khủng bố. Nếu tin rằng bằng cách cho Ấn Độ một vai trò lớn hơn ở Afghanistan, Mỹ có thể đạt được hòa bình thì đó là một sai lầm. Đáng chú ý, ông Hameed cho rằng nếu ông Trump muốn Pakistan làm nhiều hơn điều đó là không thể. Pakistan có quyền ngăn chặn và chấm dứt thỏa thuận cung cấp các tuyến đường và hàng không để Mỹ "tiếp tế" cho lực lượng NATO ở Afghanistan. Tiến sĩ Iram Khalid, thuộc khoa Chính trị học, Đại học Punjab thì cho rằng rõ ràng chính sách Afghanistan hiện tại của Mỹ là một phần mở rộng của kế hoạch mang tính chiến lược sau sự kiện 11-9 với điểm mới là bổ sung vai trò và tầm quan trọng của Ấn Độ và điều này có thể là nhằm đối phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở khu vực.

Hồng Phúc / PL&XH