Độc đáo việc dùng ống tre, sợi tơ để trao gửi câu hát

Cập nhật: 08:38 | 01/03/2018
Hàng thế kỷ nay, tại làng Hậu xã Chung Sơn (Phủ Yên Thế xưa), nay là thôn Hậu - xã Liên Chung (huyện Tân Yên - Bắc Giang) từng là cái nôi của làn điệu hát ví - hát ống rất nổi tiếng. Nơi đây đã từng là nơi khởi nguồn và phát triển loại hình hát ví - hát ví ống gây nức lòng du khách. Đây là loại hình dân gian truyền thống với lối hát giao duyên, đối đáp nam nữ và trở thành hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng đậm nét. Trong câu hát thường có sự ví von so sánh để giãi bày tâm tư, tình cảm giữa người này và người kia, vì thế nhân dân còn gọi lối hát này là hát ví.  

Loại hình nghệ thuật đặc sắc

Hát ống (hay ví ống) là tên gọi của một loại hình nghệ thuật dân gian đặc sắc đã ra đời và tồn tại hàng trăm năm nay ở xã Liên Chung (huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang) - nơi được coi như cái nôi của lối hát “chân quê” nhưng giàu cảm xúc. Từ thời phong kiến, những người thợ cày, thợ cấy, thợ gặt từ các nơi kéo về gặt thuê, cấy mướn cho địa chủ đã cùng nhau cất lên lời hát ngợi ca lao động, ngợi ca vẻ đẹp quê hương, tình làng nghĩa xóm và tình yêu đôi lứa... Những cuộc hát ví này họ đối đáp với nhau có khi hàng tuần trăng.

Cũng theo các cụ cao niên trong thôn Hậu (xã Liên Chung), hát ống, hát ví đã tồn tại hàng trăm năm trên mảnh đất thôn Hậu - Liên Chung, nhưng trải qua những biến cố, thăng trầm của lịch sử nên có một thời gian dài hát ví, hát ống dần bị mai một. Và để khôi phục và gìn giữ loại hình văn hóa dân gian đặc sắc này, tháng 4-2012, Câu lạc bộ (CLB) hát ví, hát ống Liên Chung được thành lập thu hút 31 hội viên tham gia trong đó có đủ mọi thành phần lứa tuổi.

Thôn Hậu (xã Liên Chung) với trên 400 hộ dân, với gần 2.000 nhân khẩu - nơi đây là cái nôi sản sinh và nuôi dưỡng nhiều “hạt nhân” văn nghệ mang đậm chất dân gian truyền thống. Đặc biệt, có nhiều cụ cao niên trong làng đã “gắn bó” cả đời mình với những làn điệu hát ví, hát ống của tổ tiên. Không những vậy, hiện có nhiều trẻ em thôn Hậu đã “tình nguyện” học và tham gia sinh hoạt vào CLB hát ví - hát ống Liên Chung.

Nét độc đáo của hát ví ở xã Liên Chung còn thể hiện ở sự phong phú về ngôn từ, khả năng ứng biến linh hoạt trong từng hoàn cảnh của đôi bên khi đối đáp. Trong cuộc hát ống, hát ví đôi khi còn là những sự so tài cao thấp giữa các đội hát (phường hát). Phường này, người này hát lên những câu đối, câu đố để phường kia hay người kia đối lại hay giải đáp. Nếu đối đáp được thì đó là một sự thỏa đáng, còn nếu không thì bên thua coi đó là một món nợ hẹn lần sau đáp lại. Cũng có khi trong hát ống, hát ví giao lưu còn là những câu bông đùa, giễu cợt, trêu chọc giữa người này với người kia để thử tài ứng đáp.

Bên bị trêu chọc cố gắng suy nghĩ tìm ra câu hát sao cho thỏa đáng, nếu không bên nghe sẽ bị coi là thua và chịu đến lần sau. Đây cũng là nét đặc trưng rất riêng biệt của hát ví, hát ống so với các lối hát khác. Ông Nguyễn Văn Đài, 77 tuổi ở thôn Hậu đã tham gia hát ví, hát ống khi còn ở tuổi thiếu niên, ông cũng là một trong những người có công sưu tầm, khôi phục vốn văn hóa quý giá này.

Bên cạnh đó, ông Đài cùng nhiều người trong làng đã dày công sưu tầm, tìm hiểu và ghi chép lại được hàng nghìn lời hát cổ để phổ biến rộng rãi trong nhân dân trong làng và ngoài xã. Ngoài những hình thức hát khi khách đến chơi nhà, hay những tiệc vui để mời nhau xơi trầu, uống nước, mời rượu, mời cơm, hát ví còn được người dân nơi đây sử dụng trong giao tiếp với khách xa gần để làm quen và kết bạn.

Còn với hát ống cũng mang những đặc trưng của các hoạt động sinh hoạt âm nhạc cộng đồng truyền thống được truyền từ đời này sang đời khác, hình thức diễn xướng đơn giản, gắn liền với cảnh quan thiên nhiên và sinh hoạt đời thường của người nông dân.

Hát ống, với bản chất là hát ví, có giai điệu và ca từ mộc mạc, giọng hát như giọng thơ, thường là thể thơ lục bát dễ nhẩm, dễ thuộc. Nhưng điểm khác biệt và độc đáo là ở chỗ người ta sử dụng những chiếc ống hát được nối với nhau vừa để truyền âm, vừa để động tác khi hát trở nên duyên dáng hơn, cuốn hút hơn.

Ống hát thường được làm bằng những nguyên liệu tự nhiên vốn rất sẵn ở các vùng quê như ống tre hoặc nứa. Sau khi làm sạch, tròn trịa, một đầu ống người ta bịt lại bằng da con ếch, rồi nối hai ống với nhau bằng sợi tơ hoặc cước với khoảng cách vài chục sải tay. Khi hát, mỗi khi bên này dùng ống làm loa để hát thì bên kia đặt ống lên tai để nghe, rồi đổi lại. Cứ thế, cứ thế, sợi tơ mỏng mảnh khẽ rung lên, truyền đi những âm điệu ngọt ngào, khiến cả người hát lẫn người xem đều thích thú, say mê.

doc dao viec dung ong tre soi to de trao gui cau hat
Đã có thời kỳ, hát ví của huyện Tân Yên nổi tiếng gần xa, tiêu biểu là các xã: Liên Chung, Cao Thượng, Nhã Nam và vùng phụ cận. ảnh: t.liên

Bảo tồn báu vật của người xưa

Hai chiếc ống tre được xem như một chiếc micro trong hát ống được làm từ loại tre ngà, có đường kính từ 7-10cm, dài chừng 15-20cm thông hai đầu, một đầu được bịt bằng da ếch. Kết nối giữa hai chiếc micro đặc biệt này là một sợi dây tơ tằm mỏng. Sợi dây tơ tằm này buộc vào hai chiếc kim khâu và đặt vào lòng ống tre.

Tùy thuộc vào cự ly hát mà sợi dây dài hay ngắn, thường là từ 60 đến 70 sải tay. Khi hát, âm thanh làm các màng da ếch rung lên, tín hiệu âm thanh truyền qua sợi dây tới đầu ống bên kia, người nghe dù đứng xa cả chục mét vẫn nghe rõ tựa như phát ra từ loa nhỏ.

Thông qua loại nhạc cụ đặc biệt này, các chàng trai cô gái có cơ hội trò chuyện tỏ bày tình cảm, tâm tình cùng nhau, thể hiện cả những điều mà bình thường khi gặp mặt nhau rất khó diễn tả. Lời ca của hát ống - hát ví phần nhiều được làm theo thể lục bát, vần vè rất rõ nên người hát dễ thuộc dễ nhớ. Trong hát ống - hát ví, có khi phái này có thể hát những câu bông đùa, trêu chọc nhau, gây cho phái kia sự bực tức nhưng không ghét bỏ, không giận hờn.

Phái nào bị trêu chọc thì cố gắng suy nghĩ, tìm ra câu hát đáp lại cho thỏa đáng: “Tưởng rằng áo trắng là tiên/Thì ra áo trắng thiếu tiền mua nâu. Vội về xin chịu một câu/Nâu, nâu sẽ có một nâu trả lời...”. Lời từ giã bạn trong hát ống - hát ví da diết, nhớ nhung: “Bây giờ bóng đã xế tà/Chàng gần ở lại, nhà xa em về...”.

Độc đáo và đẹp đẽ là vậy nhưng vào môn nghệ thuật đã từng vắng bóng ở Bắc Giang từ những năm 70 - 80 của thế kỷ trước. Thế nên, ngoài người dân Liên Chung thì hát ống - hát ví còn khá xa lạ với nhiều người, đặc biệt là giới trẻ Bắc Giang. Ở Liên Chung hiện nay, lứa tuổi 75 - 80 còn rất nhiều người thuộc nhiều làn điệu cũng như bài ca của hát ống - hát ví.

Đây cũng chính là những hạt nhân văn nghệ làm “tái sinh” lại môn nghệ thuật này. Bà Nguyễn Thị Triện hơn 70 tuổi (thành viên CLB hát ví - hát ống Liên Chung), người biết hát ví - hát ống từ năm hơn 10 tuổi cho biết: Hiện tại những người từ 75 - 80 tuổi của làng Hậu có nhiều người hát ví rất giỏi. Điển hình là cụ Soạn, cụ Thâm, cụ Bơ.

Từ những năm 1955, phong trào hát ví, hát ống ở thôn Hậu đã nức tiếng gần xa. Nhiều người đi làm đồng, cắt cỏ, cấy - cày thường hát ví cho quên đi nỗi mệt nhọc trong lao động sản xuất. Không chỉ hát trong làng trong xã với nhau, những cô thôn nữ làng Hậu khi cắt cỏ, làm đồng ở đồng Ve vẫn thường hát ví với con trai làng Nguyễn, Đồng Sen (xã Việt Lập)…

Ông Ngô Văn Nguyên, cán bộ văn hóa xã Liên Chung, chủ nhiệm CLB cho biết: Tuy là cái nôi của loại hình hát ví, hát ống nhưng trong suốt thời gian dài bị mai một. Bằng những câu hát ngẫu hứng trên đồng ruộng, khi tát nước, khi vơ cỏ, hoặc những buổi sinh hoạt văn nghệ quần chúng, hoặc những lời ru của bà, của mẹ cho con cháu nghe, người dân ở Liên Chung vẫn có những cách tuyệt vời để giữ gìn hát ví, hát ống. Cuối tháng 4-2012, CLB hát ống, hát ví xã Liên Chung đã chính thức được thành lập, mang đến một sân chơi định kỳ và rộng rãi cho người dân.

Đây là một tín hiệu đáng mừng cho thấy chính quyền địa phương đã quan tâm và tạo điều kiện trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa này. Đến nay số hội viên CLB vẫn đều đặn tăng lên, trong đó có cả những nghệ nhân cao niên, lẫn những thanh, thiếu niên có tuổi đời còn trẻ. Khắp xóm làng Liên Chung giờ ngân vang những làn điệu hát ví, hát ống.

Đó không chỉ là những buổi sinh hoạt của những CLB, hay hoạt đông tập dượt cho các tiết mục văn nghệ, mà loại hình diễn xướng này đang hồi sinh và có sức lan tỏa mạnh mẽ trong chính cuộc sống của người dân nơi đây, sống mãi với thời gian và và góp phần làm giàu mãi cho văn hóa nhân loại.

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Đình Bưu: “Hát ví là loại dân ca trữ tình đối đáp nam nữ, một hình thức ca hát truyền thống rất lâu đời của nhân dân. Hát ví có lẽ là loại dân ca phổ biến nhất vì xét về mọi mặt như làn điệu thì hát ví chỉ có một làn điệu, giọng ví nghe gần gũi với giọng thơ, dễ hát, dễ thuộc, âm giai và nhịp điệu thô sơ mộc mạc”.

Thủy Liên