Hà Giang nên thơ và huyền bí - Kỳ 3: Lễ hội Bàn Vương - dấu ấn linh thiêng

Cập nhật: 15:33 | 09/09/2017
(PL&XH) - Nếu như dân tộc Dao có nhiều nhánh Dao khác nhau thể hiện rõ nét ở trang phục, tiếng nói, kiến trúc nhà ở,... thì họ lại có điểm chung trong tín ngưỡng. Đó là phong tục thờ cúng Bàn Vương.

Đồng bào người Dao là dân tộc có nhiều phong tục tập quán đặc biệt, mang dấu ấn tâm linh. Ngoài lễ nhảy lửa huyền bí, họ còn có phong tục nổi tiếng là thờ cúng Bàn Vương – vị thủy tổ, anh hùng của dân tộc Dao. Lễ hội thường diễn ra vào tháng 2 âm lịch. Không chỉ người Dao tại Hà Giang mà hầu hết các nhánh (nhóm) Dao khắp Việt Nam đều có phong tục này.

Theo ông Đặng Quốc Sử - GĐ Trung tâm xúc tiến Du lịch tỉnh Hà Giang, Việt Nam hiện nay có khoảng hơn chục nhánh Dao khác nhau, trong đó, Hà Giang có 5 nhánh. Mặc dù đều có chung phong tục thờ cúng Bàn Vương nhưng ở mỗi ngành Dao lại có giai thoại và điển tích khác nhau về vị sư tổ Bàn Vương.

Một số nhánh Dao cho rằng Bàn Vương vốn là Long Khuyển Bàn Hồ. Cách đây hơn 6.000 năm, ở một nơi rất xa phía Bắc Việt Nam có một vị vua hiệu là Bình Vương, có tâm hồn cốt cách nhân từ, thương yêu dân chúng như con. Khi nước láng giềng Cao Vương đến xâm lược, Bình Vương đã ra bảng cầu hiền, ai chém được đầu Cao Vương sẽ được gả công chúa. Nhiều tướng lĩnh của Bình Vương ra trận nhưng đều thất bại. Khi đó, Long Khuyển Bàn Hồ một mực xin được lập công. Bàn Hồ bàn với Bình Vương đến bên cạnh Cao Vương. Sau khi nhận được sự tin tưởng của Cao Vương, thừa lúc Cao Vương đang say rượu, Bàn Hồ cắn đứt đầu Cao Vương mang về dâng cho Bình Vương và được cưới công chúa thứ 3. Ngay lập tức, Bàn Vương biến thành một chàng trai khôi ngô, tuấn tú. Tuy nhiên, một số nhánh Dao lại truyền tai nhau rằng sau khi cưới công chúa, Bàn Hồ muốn biến thành người, liền bảo công chúa bỏ Bàn Hồ vào trong nồi hấp 7 ngày 7 đêm. Khi hấp được 6 ngày 6 đêm, công chúa sợ chồng bị hấp chết nên lén mở vung xem thử. Quả nhiên, Bàn Hồ biến thành người nhưng vì chưa hấp đủ 7 ngày 7 đêm nên đầu và bắp chân Bàn Hồ vẫn còn nhiều lông chưa rụng hết. Về sau, Bàn Hồ phải dùng khăn vải vấn lấy đầu và chân.

lễ hội bàn vương
Lễ hội Bàn Vương là một trong những phong tục văn hóa truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc Dao tại Hà Giang. ẢNH: YẾN VŨ

 

Sau khi Bàn Hồ biến thành người, Bình Vương phái Bàn Hồ đến Giàng Chiêu lập nghiệp, hiệu xưng là Bàn Vương. Bàn Vương và công chúa sinh được 12 người con, 6 trai 6 gái. Bình Vương ban cho mỗi người một họ, trở thành 12 họ sớm nhất của người Dao, là các họ: Bàn, Triệu, Đặng, Phượng, Lý, Lê, Phùng, Trúc, Trần, Trương, Hoàng, Sàm. Tuy là vua nhưng Bàn Vương vẫn giữ thói quen sống giản dị, cần kiệm, gần gũi với thiên nhiên. Ngài luôn căn dặn các con phải chăm chỉ lao động sản xuất. Có một lần, Bàn Vương cùng tùy tùng lên núi săn bắn, đuổi theo một con sơn dương bị thương, chẳng may bị sừng sơn dương húc phải, ngã vào cây gù hương và mất tại đó. Thi thể Bàn Vương bị vướng trên nhành cây, các con bèn chặt cây làm thân trống, đuổi bắt con sơn dương để lấy da làm trống tế lễ Bàn Vương. Ngày tang lễ của Bàn Vương, Bình Vương đến dự và hạ chỉ con cháu từ đời này sang đời khác phải phải cúng ngày giỗ Bàn Vương, cứ 3 năm là cúng Đàng Ton, 5 năm là cúng Tồm Đàng.

Đối với người Dao đại bản (Dao đỏ, Dao quần chẹt) thì lại cho rằng, Bàn Vương là người có công cứu người Dao khi đưa họ đi lánh nạn trên 7 chiếc thuyền vượt qua biển lớn đầy sóng dữ, thủy quái xuôi về phương Nam định cư yên ổn. Người Dao quần trắng thì quan niệm Bàn Vương giống như một người đứng đầu trong một dòng họ…

Vì quan niệm về Bàn Vương ở các nhóm Dao có sự khác nhau nên cách thức tổ chức lễ cúng Bàn Vương ở mỗi nơi, mỗi nhóm Dao cũng khác nhau, phổ biến là 3 kiểu. Kiểu thứ nhất là làm lễ lớn “Tồm Đàng” do người Dao trong một xã cùng đứng ra tổ chức. Họ mổ trâu, lợn, quy mô như một lễ hội, vài năm tổ chức một lần và kéo dài khoảng vài ngày. Lễ hội này thường diễn ra vào dịp cuối năm khi công việc nhà nông vãn dần và chuẩn bị bước sang năm mới. Đàn cúng tế Bàn Vương được lập bằng sàn tre, gỗ ở nơi trung tâm làng bản có địa thế đẹp, bảo đảm các yếu tố phong thủy do các thầy mo lựa chọn. Trên đàn tế có trang trí giấy nhiều màu, tranh thờ cúng, vải, nhiều đồ vật trang trí kết từ tre nứa, những lễ vật từ nông nghiệp như lợn, gà, trâu bò, thóc lúa. Khi mọi thứ chuẩn bị xong, thầy mo tiến hành nghi lễ cúng tế tạ ơn Bàn Vương đã phù hộ cho người Dao luôn được bình yên, làm ăn phát đạt, không bị bệnh dịch, ma quỷ hoành hành. Sau lễ cúng tạ ơn, thầy mo cùng dân làng hát 36 đoạn ca xướng và 7 tập khúc tử ca tụng công đức của Bàn Vương. Đối với phần hội sẽ tổ chức các trò chơi dân gian như kéo co, đẩy gậy, nhảy bao bố và tổ chức hát giao duyên, múa cấp sắc…

Kiểu cúng tế thứ hai là Đàng Ton. Thông thường, lễ này được tổ chức đối với các dòng họ coi Bàn Vương là ông tổ của mình và tự tập hợp nhau lại tổ chức cúng tế  theo truyền thống của các dòng họ. Nghi lễ Đàng Ton nhỏ nên thời gian diễn ra ngắn hơn. Sau phần cúng tế tạ ơn của thầy mo, người trong các họ thường chỉ hát 24 đoạn ca xướng, 7 tập khúc tử.

Kiểu cúng tế thứ 3 là cúng tế Bàn Vương trong từng gia đình. Nghi lễ này được tiến hành kết hợp trong các lễ cúng khác của gia đình như lễ cấp sắc, lễ cúng cơm mới, cúng vía lúa, làm chay… Phần thực hiện nghi lễ không phải mời thầy mo vì người đàn ông chủ nhà hầu như đều đã được làm lễ cấp sắc nên hoàn toàn đủ khả năng thực hiện các nghi lễ cúng Bàn Vương trong quy mô gia đình.

Thờ cúng Bàn Vương là một trong những phong tục truyền thống mang đậm nét văn hóa tâm linh của cộng đồng người Dao. Đây là dịp để đồng bào dân tộc Dao tưởng nhớ về tổ tiên, nguồn cội của mình, đồng thời, củng cố tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, nhắc nhở đồng bào người Dao vươn lên, khắc phục khó khăn để có được cuộc sống ấm no. Vì vậy, lễ hội Bàn Vương mang dấu ấn tâm linh thiêng liêng chính là phong tục văn hóa truyền thống cần được duy trì và bảo tồn.

Tục nuôi lợn để cúng Bàn Vương

Theo một số tài liệu ghi lại, phong tục cúng Bàn Vương của người Dao căn bản vẫn giống nhau. Nó bao gồm những nghi lễ chính gồm: Lễ khất, lễ cúng Bàn Vương và lễ tiễn đưa. Lễ khất: Vào những năm làm ăn thất bát, sinh hoạt gia đình gặp nhiều khó khăn, người Dao thường làm một lễ cúng để khất, hứa rằng nếu Bàn Vương phù hộ để tai qua, nạn khỏi, làm ăn thuận lợi hơn trước thì sẽ tổ chức lễ cúng Bàn Vương. Từ lúc khất hứa với Bàn Vương, đồng bào người Dao bắt đầu công việc chuẩn bị. Họ nuôi hai con lợn, một con cho Bàn Vương và một con cho các vị thánh thần khác cùng gia tiên. Khi bắt đầu nuôi hai con lợn này, đồng bào thường phải làm một lễ cúng để báo cho Bàn Vương biết trước. Hai con lợn này gọi là hai con lợn của thần và được nuôi trong hai ngăn chuồng riêng. Với người Dao quần chẹt, họ nuôi hai con lợn thần ấy ngay ở gầm sàn, không để người lạ nhìn thấy. Vì đây là hai con lợn của thần thánh nên không được đánh đập, chửi mắng chúng, gày béo không được chê.

Ở người Dao đeo tiền, mỗi lần cúng Bàn Vương, ngoài hai con lợn của thần đã nuôi sẵn, đồng bào còn thịt tất cả lợn từ lớn đến bé để cúng. Người dân làm một quyển sổ thống kê số lợn đã nuôi (hay đã từng có) từ lần cúng trước cho đến lần này, kể cả số lợn đã giết thịt, đem bán, cho bà con vay mượn, bị chết. Số thống kê này sẽ được đem trình hai vị thần chăm sóc việc chăn nuôi, rồi mới nộp (đem đốt) cho Bàn Vương. Sau khi cúng Bàn Vương xong, trong vòng từ 2 đến 4 tháng, bà con không được nuôi lợn, kể cả một con để gây giống. Sau thời gian đó mới được tiếp tục nuôi như bình thường.

    (Còn nữa...)

Hồng Giang / PL&XH