Hấp dẫn đầu tư nhưng cần giải bài toán môi trường

Cập nhật: 06:45 | 05/10/2017
(PL&XH) - Tín hiệu mừng Việt Nam tiếp tục là điểm đến hấp dẫn với giới đầu tư quốc tế. Vấn đề đặt ra là làm sao vừa thu hút được nhiều vốn vừa bảo đảm mục tiêu ứng dụng công nghệ hiện đại, giảm thiểu tác động môi trường.

Vừa qua theo thống kê của Tổng cục Thống kê thì 9 tháng đầu năm, vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam đạt 25,5 tỷ USD, tăng 34,3% so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy, nền kinh tế đang phát triển tích cực và các nhà đầu tư nước ngoài vẫn lựa chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư.

Cụ thể, từ đầu năm đến ngày 20-9-2017, đã có 1.844 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 14,6 tỷ USD. Bên cạnh đó, có 878 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 6,8 tỷ USD, nâng tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm trong 9 tháng đầu năm 2017 lên 21,3 tỷ USD, tăng 29,7% so với cùng kỳ năm 2016.

Mặt khác, trong 9 tháng đầu năm 2017 đã có hơn 3.700 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 4,2 tỷ USD. Như vậy, tính chung tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới, cấp vốn bổ sung và đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần 9 tháng đạt 25,5 tỷ USD, tăng 34,3% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng ước tính đạt 12,5 tỷ USD, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm 2016.

Anhh
Việc bảo đảm song song giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường là điều hết sức cần thiết. ẢNH TƯ LIỆU

 

Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí thu hút FDI lớn nhất với số vốn đăng ký của các dự án được cấp phép mới đạt 5,4 tỷ USD, chiếm 36,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 5,3 tỷ USD, chiếm 36,5%; các ngành còn lại đạt 3,9 tỷ USD, chiếm 26,7%.

Trong số các địa phương có dự án FDI được cấp phép mới, Thanh Hóa có số vốn đăng ký lớn nhất với 3,14 tỷ USD, chiếm 21,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Nam Định 2,1 tỷ USD; Kiên Giang 1,3 tỷ USD; Bình Dương 1,1 tỷ USD...

Hiện nay, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam với 4,9 tỷ USD, chiếm 33,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc... Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, con số FDI đạt mức kỷ lục có thể coi là điểm sáng của nền kinh tế.

Tuy nhiên, về phía cơ quan nghiên cứu, ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê cũng đề nghị việc thu hút vốn FDI rất lạc quan, tuy nhiên cần chọn lọc các dự án có công nghệ tiên tiến, hiện đại.

Hạn chế những dự án quy mô nhỏ, dưới 1 triệu USD vì có thể gây áp lực cho DN trong nước. Một điểm cần lưu ý, mặc dù khu vực FDI được hưởng nhiều ưu đãi nhưng hầu như nền kinh tế trong nước hiện nay không khai thác được nhiều lợi thế của khu vực này, nhất là trong việc chuyển giao công nghệ, một trong những mục tiêu quan trọng của việc thu hút đầu tư FDI.

Theo Chủ tịch Hiệp hội DN đầu tư nước ngoài Nguyễn Mại, cần nhấn mạnh vai trò, sự đóng góp của đầu tư nước ngoài đối với quá trình hình thành, phát triển nền kinh tế xanh ở Việt Nam. Đây là nhu cầu và yếu tố quan trọng nhằm giảm thiểu tác hại của hiện tượng khí hậu nóng lên trên toàn cầu, sự phát thải carbon có thể gây hiệu ứng nhà kính, ô nhiễm môi trường.

Một số chuyên gia cũng đồng thuận quan điểm này và khuyến cáo cần có sự cân nhắc kỹ, tổng thể, đồng thời gắn liền với yêu cầu cao về công nghệ của những dự án đầu tư nước ngoài thuộc lĩnh vực công nghiệp cổ điển như sản xuất thép, xi măng, hóa chất, nhà máy điện chạy bằng than...

Thậm chí, cần chủ động hạn chế những lĩnh vực này do nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cũng như gia tăng khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Không phải ngẫu nhiên mà Bộ Kế hoạch và đầu tư nhiều lần khẳng định, hiện đã đến giai đoạn tăng cường rà soát, đánh giá kết quả tổng thể về thu hút, sử dụng vốn đầu tư nước ngoài; trong đó nhấn mạnh quan điểm không chấp nhận những dự án áp dụng công nghệ lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng, sử dụng nhiều đất đai và đặc biệt là không được gây ô nhiễm môi trường. Mấu chốt vấn đề phụ thuộc vào hiệu quả công tác quản lý của các cơ quan chức năng, từ tầm vĩ mô đến từng đơn vị, địa phương, cần chủ động thẩm tra chặt chẽ, phát huy tối đa quyền lựa chọn của mình trước khi cấp phép cho một dự án.

Chuyên gia kinh tế, TS Vũ Đình Ánh nhận định: Phát triển kinh tế - xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống của con người thông qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội và nâng cao chất lượng văn hóa.

Quá trình phát triển kinh tế - xã hội không thể tách rời môi trường tự nhiên và môi trường cũng chịu tác động của sự phát triển kinh tế - xã hội. Xét về khía cạnh tích cực, phát triển kinh tế - xã hội giúp cải thiện môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cho sự cải tạo đó.

Tuy nhiên, nếu phát triển kinh tế ồ ạt,  không có kế hoạch có thể gây những tác động xấu cho môi trường tự nhiên như sự suy thoái tài nguyên thiên nhiên, gây biến đổi khí hậu…

Khi môi trường bị suy thoái không chỉ nguồn nguyên liệu đầu vào cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội bị suy thoái mà có thể còn gây thảm họa, thiên tai, đe dọa nghiêm trọng các hoạt động kinh tế - xã hội và chất lượng cuộc sống của con người.

Theo đó, sự phát triển kinh tế - xã hội phải bảo đảm nguyên tắc phát triển bền vững, sự phát triển luôn được xem xét, đánh giá trong sự tương tác với môi trường, giữ cân bằng giữa môi trường và phát triển, bảo đảm phát triển đáp ứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai. Phát triển bền vững hiện nay trở thành mục tiêu, định hướng của phần lớn các quốc gia trên thế giới.

Bản Sa / PL&XH