Mấu chốt tăng năng suất cho thị trường lao động Việt Nam

Cập nhật: 08:47 | 10/05/2018
Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) vừa công bố Báo cáo kinh tế thường niên Việt Nam 2018 với chủ đề chính “Hiểu thị trường lao động để tăng năng suất”.

Đáng quan tâm, báo cáo cho biết, năng suất lao động (NSLĐ) của Việt Nam thuộc hàng thấp nhất trong khu vực. Đặc biệt các ngành có năng suất thực sự “đội sổ” bao gồm “chế biến chế tạo”, “xây dựng” và “logistics”.

NSLD của Việt Nam được đặt trong mối tương quan với các nước Đông Bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và ASEAN (Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia, Campuchia).

Cụ thể, NSLĐ của Việt Nam đứng vị trí thấp nhất trong các nước so sánh, kể cả Campuchia, ở cả ba ngành quan trọng nhất của nền kinh tế là công nghiệp chế biến chế tạo, xây dựng và vận tải, kho bãi, truyền thông. NSLĐ của Việt Nam chỉ cao hơn Campuchia ở các nhóm ngành: “Nông nghiệp,” “Điện, nước, khí đốt”, “Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa”. Việt Nam chỉ có NSLĐ cao hơn một số nước trong ba nhóm ngành: “Khai mỏ và khai khoáng”, “Tài chính, bất động sản và dịch vụ văn phòng”, “Dịch vụ cộng đồng, xã hội, cá nhân”.

mau chot tang nang suat cho thi truong lao dong viet nam
Nhiều chuyên gia nhận định, cần cải cách mạnh mẽ hơn để tăng năng suất lao động.

PGS.TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện VEPR đánh giá, có thể nói NSLĐ của các ngành của chúng ta không cao hơn được nước ASEAN nào cả. Đặc biệt các ngành có năng suất thực sự “đội sổ” bao gồm chế biến chế tạo, xây dựng và logistics, cho thấy điều đáng lo ngại về nền sản xuất nội địa. Trong khi ngành có NSLĐ cao hơn thì lại nằm ở khu vực về bất động sản, khu vực khai khoáng. Điều này cho thấy sự méo mó trong NSLĐ của Việt Nam hiện nay.

Báo cáo kinh tế thường niên 2018 còn cho thấy, trong một thập niên gần đây năng suất của Việt Nam chủ yếu được cải thiện nhờ dịch chuyển cơ cấu. Vì thế, thị trường lao động linh hoạt có ý nghĩa quan trọng, nhưng điều này lại chưa được chú ý.

Để tăng NSLĐ, cần có chính sách đào tạo và nâng cao tri thức, kỹ năng cho người lao động, đặc biệt là lao động trong nhóm ngành nông nghiệp và công nghiệp chế biến, chế tạo, đảm bảo việc lao động dịch chuyển từ nhóm ngành có NSLĐ thấp (nông nghiệp) sang nhóm ngành có NSLĐ cao hơn (công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ) có thể đảm nhiệm công việc tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn.

Đồng thời cần chính sách khuyến khích đổi mới, sáng tạo về cải tiến kỹ thuật trong sản xuất, áp dụng công nghệ để nâng cao NSLĐ trong các ngành,cải cách mạnh mẽ hơn để cải thiện NSLĐ của các ngành kinh tế.

PGS.TS. Nguyễn Thị Lan Hương, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội (Bộ LĐ-TB&XH) cho rằng lao động của Việt Nam đang trong tình trạng chuyển dịch ồ ạt. Nhiều lao động khu vực nông thôn đang dịch chuyển sang khu vực phi nông nghiệp, nhưng lại chưa được bảo đảm bằng một chiến lược chuyển dịch phù hợp, một chính sách an sinh đầy đủ.

PGS.TS. Vũ Minh Khương, trường Chính sách công Lý Quang Diệu –ĐH Quốc gia Singapore (NUS) cũng cho rằng, sự chuyển dịch lao động ở Việt Nam đang thiếu một chiến lược rõ ràng.

Ông Khương ví dụ, ngành may mặc thấy giá nhân công ở TP HCM cao quá lại mở ra ở Đà Nẵng, Đà Nẵng không hiệu quả lại mở ra Thanh Hóa. Trong khi đáng lẽ nếu ở TP HCM giá nhân công cao thì sẽ dịch chuyển sang nghề thiết kế hay tiếp thị về sản phẩm may mặc để NSLĐ cao hơn chứ không phải để cho các nhà máy yếu dần rồi chết hẳn đi như vậy.

“Việt Nam đang có 2,5 triệu công nhân làm trong ngành may mặc, thời đại công nghiệp 4.0 việc dịch chuyển số lượng nhân công này đi đầu là cả một câu chuyện rất lớn”, ông Khương nói.

Theo Viện trưởng VEPR Nguyễn Đức Thành, để cải thiện NSLĐ, Việt Nam cần tiếp tục tạo điều kiện tích cực để thúc đẩy tăng trưởng TFP (tăng năng suất nhân tố tổng hợp –PV) cũng như cần có chính sách đào tạo và nâng cao tri thức, kỹ năng cho người lao động, chính sách khuyến khích đổi mới, sáng tạo về cải tiến kỹ thuật trong sản xuất, áp dụng công nghệ để nâng cao NSLĐ trong các ngành, đồng thời đầu tư thêm vào việc nghiên cứu cải tiến công nghệ và mua các công nghệ từ nước ngoài trong trường hợp cần thiết.

Nếu không muốn bị vượt qua bởi các quốc gia láng giềng như Campuchia về NSLĐ nói riêng và tăng trưởng kinh tế nói chung, ông Nguyễn Đức Thành cho rằng, Việt Nam cần có những cải cách mạnh mẽ hơn để cải thiện NSLĐ của các ngành kinh tế. Đồng thời, phát triển thị trường lao động cùng các chính sách liên quan nhằm thúc đẩy quá trình dịch chuyển lao động theo đúng nhu cầu dịch chuyển cơ cấu. Bên cạnh đó, nhóm ngành công nghiệp (chế biến chế tạo) và dịch vụ cần được chú trọng nhiều hơn nữa về cải thiện môi trường kinh doanh và thay đổi công nghệ.

Lương tăng nhanh hơn năng suất lao động Một vấn đề đáng lưu ý của Báo cáo là mối quan hệ giữa lương và năng suất lao động. Báo cáo nhận định, tốc độ tăng lương trung bình năm (6,7%) vẫn vượt quá tốc độ tăng năng suất lao động (5%) trong giai đoạn 2004-2015 (đặc biệt sau năm 2009). “Việc tiền lương tăng nhanh hơn tăng trưởng năng suất lao động nhìn chung làm giảm tỷ lệ lợi nhuận, kéo lùi tốc độ tích lũy vốn của khu vực doanh nghiệp và tương ứng với đó là mức tạo việc làm. Đồng thời, sức cạnh tranh của nền kinh tế giảm cả trên phương diện thị trường lao động và của khu vực doanh nghiệp nội địa”, Viện trưởng VEPR nói.

Điều đáng lo ngại là khi lương tối thiểu tăng, khu vực tư nhân đối phó bằng khuynh hướng cắt giảm lao động chính thức, có đóng bảo hiểm (phi chính thức hóa lực lượng lao động). Các ngành công nghiệp thâm dụng lao động như dệt may, sản phẩm gỗ và đồ nội thất có xu hướng thay thế lao động bằng máy móc… Nhóm nghiên cứu khuyến cáo việc điều chỉnh lương tối thiểu cần được thực hiện phù hợp với tăng trưởng năng suất lao động. Và Chính phủ cần lựa chọn thúc đẩy năng suất lao động như một mục tiêu quan trọng hàng đầu trong kế hoạch trung và dài hạn.

Phương Thảo