Những bài học quý về công cụ sở hữu trí tuệ trong nghiên cứu, sáng tạo

Cập nhật: 13:27 | 14/04/2018
Sở hữu trí tuệ trong nghiên cứu, sáng tạo giờ đây đã trở thành vấn đề quan tâm của nữ giới yêu nghiên cứu. Từ kinh nghiệm của bản thân mình, 2 nhà khoa học nữ đã đưa ra những “lời gan ruột”, gửi tới các bạn trẻ, đặc biệt là các bạn nữ đam mê khoa học và sáng tạo.

GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu, Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam cho biết: Với 3.100 hội viên, trong đó 70% hội viên có trình độ từ thạc sĩ trở lên và nhiều GS, PGS, TS, Hội Nữ trí thức Việt Nam có nhiều cống hiến cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học và phát triển kinh tế xã hội nước nhà. Nhiều chị cũng đã có bằng độc quyền sáng chế, bằng độc quyền giải pháp hữu ích… Tuy nhiên, còn rất nhiều chị chưa phát huy được tài nguyên trí tuệ của mình một cách hiệu quả nhất, đặc biệt là thông qua việc đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT). SHTT với phát triển xã hội, với việc thương mại hóa sản phẩm trí tuệ quan trọng ra sao? Muốn quyền SHTT được bảo hộ thì cần làm những gì, khi nào, ở đâu, với ai? Quyền, lợi ích và nghĩa vụ của chủ SHTT là gì? Giới hạn không gian và thời gian của quyền SHTT?... là những điều nhiều nhà khoa học nữ chưa hiểu rõ.

Chia sẻ kinh nghiệm trong đăng ký sở hữu và chuyển giao bản quyền sản phẩm, PGS.TS Nguyễn Thị Trâm- Nhà giáo nhân dân, Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới - nguyên giảng viên bộ môn di truyền giống cây trồng trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội (người đạt Giải thưởng Kovalevskaia năm 2000)- nhà khoa học nữ nổi tiếng được biết đến vì tình yêu thiết tha, bền chặt với cây lúa kể lại: Năm 1999, bà lập một nhóm nghiên cứu tự nguyện với mục đích tạo ra các giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp cho các vụ và vùng trồng lúa phía Bắc Việt Nam. Nhóm tự lập kế hoạch, tự nghiên cứu, tự nuôi nhau và nuôi các hoạt động nghiên cứu phát triển. Việc đó tạo nên áp lực buộc phải tạo ra được nhiều giống mới đáp ứng nhu cầu của người sử dụng và kết quả giống lúa TH3-3 ra đời.

nhung bai hoc quy ve cong cu so huu tri tue trong nghien cuu sang tao
PGS.TS Nguyễn Thị Trâm (ngoài cùng bên phải) chia sẻ thành công trong đăng ký sở hữu .

Năm 2007, PGS.TS Nguyễn Thị Trâm cùng nhóm nghiên cứu nộp đơn đăng ký cấp bằng sở hữu giống TH3-3, sau đó đi tiếp cận với các Cty giống, mời họ cùng đưa hạt giống đến nhiều địa phương trình diễn. Đã bỏ công, bỏ thời gian, chất xám nghiên cứu lại bỏ tiền và dùng uy tín cá nhân để đi tiếp cận doanh nghiệp, thị trường là việc các nhà nghiên cứu khi đó rất ngại.

Tuy vậy, việc này là bước đệm rất tốt để doanh nghiệp hiểu nhu cầu thị trường cũng như giá trị của giống lúa mà nhóm đã nghiên cứu. Và mọi công sức của tập thể nghiên cứu nữ này bỏ ra đã thu được thành quả xứng đáng bằng việc ký hợp đồng chuyển nhượng giống lúa TH3-3 cho một Cty tư nhân với giá trị kỷ lục 10 tỷ đồng.

Nhờ chuyển nhượng bản quyền giống lúa TH3-3, nhóm nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thị Trâm đã thu hồi được kinh phí sự nghiệp khoa học và có tiền để mở rộng nghiên cứu theo hướng mới. Trong gần 20 năm, nhóm đã tạo ra nhiều giống lúa mới như TH3-4, hương cốm, TH3-5; sở hữu 10 bằng bảo hộ, đã nhượng được 6 bản quyền trọn gói với tổng giá trị 16,4 tỷ đồng, một bản quyền chuyển nhượng theo hình thức cùng khai thác và nhiều khoản tiền khác.

Từ thành công của bản thân, PGS.TS Nguyễn Thị Trâm cho rằng các nhà nghiên cứu khoa học cần đăng ký sở hữu cho sản phẩm của mình. "Nghiên cứu khoa học là tạo ra sản phẩm khoa học mới. Muốn sản phẩm mới được ứng dụng, tác giả phải biến nó thành công nghệ có bản quyền".

Trái ngược với thành công của PGS “50 năm làm lúa” Nguyễn Thị Trâm là câu chuyện thấm thía của PGS.TS Lê Mai Hương (Viện Hóa học các hợp chất thiên nhiên) về việc từng thất bại trong quá trình đăng ký SHTT.

Theo lời PGS Lê Mai Hương, thời gian trước, khi bà cùng đồng nghiệp làm một công trình; sau đó không cân nhắc gì mà gửi đăng báo quốc tế luôn. Khi công trình được công bố, nhóm nghiên cứu của bà đều chung cảm giác hạnh phúc, tự hào về thành công bước đầu của mình. Để chuẩn bị cho công cuộc tạo ra sản phẩm hàng hóa, bà và mọi người cấp tập chuẩn bị hồ sơ đăng ký SHTT. Những tưởng thành công sắp đến, nhưng rốt cuộc, hồ sơ đó đã bị từ chối vì lý do “công trình đã được công bố quốc tế”.

Dù sản phẩm hàng hóa tạo ra có thể sẽ tốt nhưng không có bản quyền thì không thể ra đời. Việc quá hăm hở rồi thực hiện quy trình ngược này có lẽ là bài học quý cho giới trí thức nói chung và đặc biệt là nữ trí thức trẻ nói riêng trong những nghiên cứu, sáng tạo.

Linh Anh