Phó Giáo Sư, Tiến Sỹ Tăng Thị Chính:

Từ tình yêu môi trường, “nở hoa” sáng chế

Cập nhật: 07:57 | 13/10/2017
Đam mê nghiên cứu khoa học cùng với mong ước có những công nghệ có thể giúp cho việc tái chế và xử lý môi trường hiệu quả đã giúp Phó Giáo sư, Tiến sỹ (PGS.TS) Tăng Thị Chính (Trưởng phòng Vi sinh vật môi trường, Viện Công nghệ môi trường, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ (KH&CN) Việt Nam) có được những thành công với chế phẩm vi sinh vật…

Cho tới giờ PGS.TS Tăng Thị Chính vẫn thường xuyên tham gia các chuyến công tác dài ngày, đến các địa phương để tư vấn về quy trình xử lý rác thải hiệu quả, an toàn và bền vững cho các DN, nông dân và cả các nhà máy rác. PGS.TS Tăng Thị Chính được biết đến là một trong những người đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu thành công các chế phẩm ủ rác ở đồng ruộng từ những năm 2003, 2004. Bà cũng là một trong những nhà nữ khoa học gắn bó với rác thải môi trường lâu nhất và kiên trì nhất. Nhắc đến cơ duyên gắn bó với ngành công nghệ môi trường, nền tảng để sau này thực hiện hành trình cải tạo rác, theo PGS.TS Tăng Thị Chính đó là những ngày học ngành công nghiệp thực phẩm tại Bungary, chuyên ngành công nghệ vi sinh (chủ yếu nghiên cứu công nghệ lên men để sản xuất rượu, bia, kháng sinh). Khi về Việt Nam, bà cũng từng làm việc trong ngành chế biến thực phẩm trước khi rẽ sang nghiên cứu về môi trường. Khi quyết định rẽ sang ngành công nghệ môi trường, nhiều người đã khuyên bà không nên chuyển vì đây là vấn đề vô cùng khó. “Thời điểm đó ở Việt Nam mới chỉ có nghiên cứu Biogas trong chăn nuôi, còn vấn đề xử lý rác chưa được quan tâm, chủ yếu là chôn lấp. Tôi nghĩ cứ như vậy thì rác sẽ ngày một nhiều, nếu không tìm cách giải quyết sẽ rất nguy hại cho tương lai”, PGS.TS Tăng Thị Chính nhớ lại. Chính với tâm huyết và suy nghĩ này, khiến bà quyết tâm theo đuổi ngành công nghệ môi trường, với mong muốn sẽ góp phần xử lý vấn đề rác thải ở Việt Nam.

tu tinh yeu moi truong no hoa sang che
Từ năm 1993, PGS.TS Tăng Thị Chính đã thành công trong việc xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp sạch và bền vững. ẢNH: H.HƯƠNG

Chế phẩm sinh học vào xử lý tàn dư đồng ruộng của bà lần đầu tiên được đưa vào sử dụng thực tế đó là dự án xử lý 70ha đất thuộc 5 huyện của tỉnh Nam Định. Những ngày đó, bà cùng ăn, ngủ, làm cùng những người nông dân. Để thuyết phục họ về hiệu quả chế phẩm sinh học của mình, bà đã không ngần ngại lội xuống ruộng, trực tiếp thu gom phế phẩm lại một góc rồi cho chế phẩm vi sinh vào ủ. Bà tự tay làm để người nông dân hiểu và dễ hình dung ra được cách làm, quy trình. Chính sự lăn xả này khiến người dân tin tưởng và nhiệt tình hơn trong việc ứng dụng chế phẩm. Hiệu quả chế phẩm của bà cũng được khẳng định khi những người nông dân này nhận thấy quá trình phân hủy chất thải hữu cơ diễn ra nhanh hơn, thời gian ủ được rút ngắn, không sinh mùi hôi thối, lại tiêu diệt được các vi sinh vật gây bệnh, tạo ra nguồn phân bón hữu cơ sạch. Chế phẩm vi sinh của bà còn được ứng dụng vào xử lý các chất thải hữu cơ khác như: thân lá các loại rau; phân gia súc, gia cầm... để sản xuất phân bón. Chế phẩm Sagi Bio của PGS.TS Tăng Thị Chính cũng đã được nhà máy sản xuất, chế biến phân hữu cơ từ rác thải ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh sử dụng. Đây là nhà máy rác đầu tiên sử dụng chế phẩm Sagi Bio của bà để xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng phương pháp ủ đống có đảo trộn do vi sinh vật tự nhiên phân hủy. Nhà máy không còn mùi hôi như nhiều nhà máy khác. Mùn hữu cơ thu được sau quá trình xử lý cũng được chế biến thành phân hữu cơ vi sinh phục vụ nông nghiệp, hoặc sản xuất gạch không nung.

Là một trong những nhà nữ khoa học đầu tiên theo đuổi công nghệ môi trường, PGS.TS Tăng Thị Chính cũng đã gặp phải những khó khăn nhất định với vai trò người tiên phong. Một trong những khó khăn đó là nhận thức của người dân về vấn đề xử lý rác thải và ý thức bảo vệ môi trường. Tuy nhiên với tâm thế của một người làm khoa học chân chính, bà vẫn luôn kiên trì theo đuổi con đường đã chọn. Mê việc, TS Chính cũng không dành nhiều thời gian cho việc hưởng thụ cá nhân. Ngay cả các chuyến nghỉ mát cùng gia đình của bà cũng gắn với công việc. Bà kể: “Có lần cùng gia đình đi nghỉ mát ở Cửa Lò, tôi muốn tranh thủ đến Vinh xem tình hình hoạt động của nhà máy rác. Chồng và con chiều ý, thế là cả nhà cùng đi. Đến cách nhà máy tầm 500m, ai nấy bắt đầu bịt mũi, kêu đau đầu. Khi về, con gái bảo lần sau nếu đến nhà máy rác thì mẹ đi một mình thôi nhé. Nhưng nhờ cùng trải nghiệm như vậy, chồng con cũng hiểu hơn công việc tôi đang làm”.

Nhắc đến lòng đam mê của nhà khoa học nữ này, PGS-TS Nguyễn Thị Huệ - Phó Viện trưởng Viện Công nghệ môi trường - tấm tắc: “PGS-TS Tăng Thị Chính vô cùng tâm huyết với vấn đề xử lý rác, say sưa khám phá về nó. Bà có khả năng nhìn nhận vấn đề rất tốt. Những câu chuyện khoa học của bà không phải là lý thuyết mà luôn đi vào thực tế”.

Cũng theo PGS.TS Tăng Thị Chính, vấn đề nan giải nhất trong xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam đó chính là quá trình phân loại rác. Trong quy trình xử lý rác, chi phí về phân loại rác chiếm từ 70% - 80%. Bởi vậy, ở các nước phát triển như Nhật Bản, các hộ gia đình, khi bỏ rác ra khỏi nhà mà không phân loại thì các đơn vị môi trường sẽ không tiến hành thu gom rác cho gia đình đó. Theo bà, ở Việt Nam nếu mỗi gia đình chỉ cần bỏ ra từ 5 - 10 phút/ngày để phân loại rác, thì sẽ tiết kiệm hàng tỷ đồng/ngày cho các nhà máy xử lý và tái chế rác thải. Do đó, điều mà PGS.TS Tăng Thị Chính mong muốn là công tác tuyên truyền về ý thức cho người dân được đẩy mạnh hơn nữa, đặc biệt là công tác giáo dục. Phải giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người ngay từ khi còn nhỏ. Có như vậy, tư duy và nhận thức về môi trường của con người mới được cải thiện.

Hà Hương