Tung tin sai sự thật trên Facebook bị phạt thế nào?

11:00 ngày 01/11/2016

Hỏi: Tôi bán hàng online mỹ phẩm nhập khẩu khá đông khách, bị đối thủ cạnh tranh tung tin trên Facebook nói xấu bán hàng giả. Khách hàng đọc thấy tin đó đã dồn dập nhắn tin hỏi tôi. Việc kinh doanh từ đó bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tôi rất bức xúc, muốn hỏi việc tung tin sai sự thật có thể bị xử phạt thế nào? Tôi có thể kiện cô ta không?

Trả lời:

Nếu việc kinh doanh của bạn hợp pháp nhưng lại bị người khác nói xấu, tung tin sai sự thật trên Facebook hoặc trên các trang thông tin điện tử làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp và việc kinh doanh, bạn có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền bảo vệ.

Theo điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, pháp luật nghiêm cấm hành vi lợi dụng việc cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng nhằm mục đích đưa thông tin xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Do đó, người thực hiện hành vi tung tin sai sự thật trên Facebook về bạn và việc kinh doanh của bạn là đã vi phạm điều cấm này.

Theo Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện, hành vi cung cấp nội dung thông tin sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng.

Nếu hành vi tung tin sai sự thật đủ yếu tố cấu thành tội phạm của tội Vu khống thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt cao nhất có thể lên đến 7 năm tù. Theo đó, người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm; nếu phạm tội thuộc khoản 2 Điều này thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm.

Ngoài trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự như nêu trên, người vi phạm còn phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị vi phạm.

Như vậy, bạn có thể tố cáo vụ việc đến cơ quan có thẩm quyền (cơ quan công an,…) để xem xét xử lý. Nếu không có dấu hiệu hình sự và xác định được người vi phạm, bạn có thể khởi kiện ra tòa án có thẩm quyền để yêu cầu xin lỗi công khai, yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Theo Luật sư Kiều Anh Vũ (Văn phòng Luật sư Lê Ngu / Vnexpress

  • Từ khóa: