Vẫn còn nhiều bất cập trong công tác dự báo thời tiết

Cập nhật: 08:47 | 01/02/2018
Trong cuộc hội thảo về phối hợp tuyên truyền cảnh báo, dự báo khí tượng thủy văn năm 2018 giữa Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn (KTTV) TƯ với giới báo chí, nhìn nhận về công tác dự báo ngành KTTV, ông Lê Thanh Hải, PGĐ Trung tâm cho rằng, vẫn còn nhiều bất cập về công tác dự báo thời tiết hiện nay, đặc biệt là dự báo, cảnh báo bão, mưa lớn và nguy cơ lũ quét, sạt lở đất.

Xuất phát từ những hình ảnh các trận lũ quét lịch sử và cơn bão số 12 (bão Damrey) ập đến bất ngờ cuối năm 2017 khiến người dân lúng túng và hoang mang, câu hỏi đặt ra là công tác dự báo thời tiết hiện nay đã và đang có hiệu quả ở đâu?

Trả lời về vấn đề này, ông Lê Thanh Hải, PGĐ Trung tâm dự báo KTTV TƯ cho biết, hiện nay, về dự báo, cảnh báo bão tại Việt Nam đã có độ chính xác trong bản tin dự báo bão (vị trí và cường độ bão) dần tiệm cận với trình độ dự báo bão của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, do thiếu số liệu quan trắc trên biển nên khó khăn cho công tác dự báo và đánh giá chất lượng dự báo nên công tác dự báo bão còn tiềm ẩn nhiều thách thức.

van con nhieu bat cap trong cong tac du bao thoi tiet
Ông Lê Thanh Hải, PGĐ Trung tâm dự báo KTTV TƯ. Ảnh: M.MIÊN

Nguyên nhân khách quan, có thể khẳng định là các cơn bão vào biển Đông ngày càng trở nên phức tạp hơn do sự giằng xé giữa các hiện tượng thời tiết, gây khó khăn cho việc dự báo. Sự hình thành bão bất thường, bão trái mùa xảy ra đến nhiều hơn và hướng di chyển rất nhiều đột ngột.

Về chủ quan, hạn chế của ngành khí tượng nước ta so với khả năng dự báo của các đài khí tượng nước bạn là ngoài các đài ở đảo, hiện nay hệ thống quan trắc trên biển (các trạm phao) còn hạn chế. Điều này giảm tỉ lệ chính xác trong các bản tin dự báo bão. Về trình độ dự báo của các dự báo viên nước ta, vẫn thường được gọi nôm na “Gia Cát Dự”, công tác dự báo còn mang tính cảnh báo nguy cơ và giảm thiểu thiệt hại do thiên tai là chủ yếu.

Đối với các loại hình thiên tai khác, ông Lê Thanh Hải cho biết thêm: “Chúng tôi gặp khó khăn khi dự báo mưa lớn, dự báo trước 2-3 ngày với độ tin cậy khoảng 75% nhưng đối với mưa lớn cục bộ hoặc mưa lớn trong cơn dông, mới chỉ cảnh báo trước từ 30 phút đến 2-3 giờ. Trong khi đó, lũ quét và sạt lở đất thường do mưa lớn tập trung trong thời gian ngắn, hoặc kéo dài nhiều ngày, địa hình chia cắt, độ dốc lưu vực và độ dốc sông suối lớn,…”.

Theo ông Hải, công nghệ dự báo hiện nay chưa dự báo được lũ quét, sạt lở đất và mới cảnh báo nguy cơ có khả năng xảy ra lũ quét tại một số vùng hoặc khu vực rộng lớn trước từ 3-6 giờ. Bên cạnh đó, việc xác định cấp độ rủi ro thiên tai trong từng trường hợp cụ thể chưa thống nhất giữa TƯ và địa phương. Dự báo diễn biến lũ, đỉnh lũ gặp khó khăn về sai số, do hạn chế trong dự báo mưa và bị tác động từ hoạt động điều tiết, vận hành của các hồ chứa thủy điện.

Cũng theo ThS. Trần Quang Năng (Trung tâm dự báo KTTV TƯ), thực tế, trên địa bàn cả nước hiện không có một mạng lưới trạm quan trắc đo mưa tại các khu vực vùng núi, thượng nguồn sông suối, nơi hình thành lũ quét, sạt lở đất đủ dày và đo đạc truyền tin tự động hóa để có thể phản ánh được chính xác lượng mưa theo không gian, thời gian. Do đó, việc cảnh báo mang tính chất định tính nhiều hơn định lượng.

Ngoài ra, dự báo các loại hình thiên tai khác như lốc, sét, mưa đá,… chỉ có thể đưa ra cảnh báo khả năng xuất hiện trên vùng rộng, khu vực chi tiết được cảnh báo trước được từ 30 phút đến 1g, nhưng cũng chỉ thực hiện được ở khu vực có phủ ra đa thời tiết. Còn với rét đậm rét hại gây ra bởi không khí lạnh có thể dự báo, cảnh báo trước từ 2-3 ngày có độ tin cậy 80-90%. Riêng với dự báo đợt nắng nóng diện rộng trước từ 2-3 ngày có độ tin cậy 70%, thời điểm kết thúc các đợt nắng nóng diện rộng chính xác từ 80-90%. Trong đó, công tác dự báo, cảnh báo thủy văn, cảnh báo lũ trên các sông khu vực miền Trung, Tây Nguyên trước 24-48 giờ độ tin cậy 60-70%, dự báo trước 12-24 giờ là 70-80%, khu vực Bắc Bộ trước 3-5 ngày đạt từ 70-85%.

“Có thể thấy, nguyên nhân trực tiếp nhất là hiện nay nước ta đang trải qua tình hình biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, điều kiện tự nhiên thay đổi như việc hầu hết các hệ thống sông không còn chế độ dòng chảy tự nhiên mà chịu chi phối bởi rất nhiều các yếu tố khác, thảm thực vật rừng đầu nguồn thay đổi. Ngoài ra, mạng lưới thám sát thiên tai, công nghệ dự báo, trình độ dự báo chưa đáp ứng được tình hình thực tiễn. Mạng lưới KTTV còn quá thưa thớt và chưa đồng bộ, nhất là ở vùng núi, khu vực trung bộ, chủ yếu chỉ là trạm quan trắc thủ công. Hơn nữa, hiện nay các hoạt động kinh tế - xã hội phát triển đa dạng với nhiều ngành, nghề khác nhau và địa bàn các hoạt động kinh tế xã hội cũng ngày càng mở rộng cả ở vùng núi và vùng biển, trong đó nhiều vùng có nguy cơ thiên tai KTTV cao dẫn đến những thách thức và khó khăn mới trong công tác dự báo KTTV”, ThS. Trần Công Năng nhấn mạnh.

Ghi nhận năm 2017, Trung tâm dự báo KTTV TƯ đã theo dõi chặt chẽ và dự báo sát với diễn biến thực tế 16 cơn bão; 4 áp thấp nhiệt đới, 2 vùng áp tháp; 22 đợt không khí lạnh, trong đó có 4 đợt rét đậm, rét hại; 15 đợt nắng nóng trên diện rộng; 23 đợt mưa lớn; 23 đợt lũ trên các hệ thống sông.

Nhận định xu thế thiên tai KTTV năm 2018, Trung tâm dự báo KTTV TƯ cho hay, hiện tượng ENSO đã chuyển sang pha lạnh (La Nina) trong tháng 12-2017 và nhiều khả năng hiện tượng La Nina duy trì trong 3-4 tháng đầu năm 2018, sau đó chuyển dần trở lại pha trung tính ENSO. Dưới tác động của hiện tượng ENSO, La Nina, số lượng bão, áp thấp nhiệt đới trên biển Đông và trực tiếp đến Việt Nam sẽ tương đương hoặc nhiều hơn một ít so với trung bình nhiều năm.

Hiện nay, cùng với sự biến đổi điều kiện khí hậu, công tác dự báo, cảnh báo sớm được chú trọng, hình thức tuyên truyền thông tin đổi mới. Công tác tuyên truyền dự báo, cảnh báo thiên tai được cập nhật trên hệ thống website của Trung tâm dự báo KTTV TƯ, cũng như các cơ quan thông tấn, báo chí, phương tiện thông tin đại chúng cơ bản đáp ứng được những yêu cầu của công tác phòng, chống thiên tai, góp phần giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra. Kết hợp tăng cường công công tác dự báo của ban, ngành thì chính các địa phương cũng cần tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn để người dân có hiểu biết về khí tượng, kỹ năng phòng chống thiên tai. Nếu công tác dự báo được chú trọng trong khi địa phương thờ ơ, người dân không chịu lắng nghe thì hậu quả người dân gánh chịu sẽ nặng nề.

Mộc Miên