Hướng dẫn xác định trường hợp “đã bị xử phạt vi phạm hành chính”

Cập nhật: 08:19 | 12/05/2019
Bộ Tư pháp vừa trả lời kiến nghị của địa phương về việc xác định thế nào là “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính”. Theo Bộ Tư pháp,  trường hợp người có thẩm quyền không ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà chỉ ban hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả độc lập theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì không được xem là đã bị xử phạt vi phạm hành chính để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trước đó phản ánh đến Bộ Tư pháp, UBND tỉnh Đắk Nông cho biết, theo quy định của pháp luật hiện hành trong một số trường hợp để xử lý hình sự thì trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đó. Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nhưng vẫn ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả. Địa phương đề nghị Bộ Tư pháp hướng dẫn, trong trường hợp này có bị coi là đã bị xử phạt vi phạm hành chính để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

Trả lời kiến nghị của địa phương, Bộ Tư pháp cho biết, Khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định: Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyên xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thục hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

huong dan xac dinh truong hop da bi xu phat vi pham hanh chinh
Theo Bộ Tư pháp, việc áp dụng hình thức xử phạt bổ sung hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính. Ảnh minh họa

Cùng với đó Khoản 3 Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng nêu rõ: Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tô chức vi phạm hành chính chỉ bị áp dụng một hình thức xử phạt chính; có thể bị áp dụng một hoặc nhiễu hình thức xử phạt bổ sung quy định tại khoản l Điểu này. Hình thức xử phạt bố sung chỉ được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính.

Từ các quy định nêu trên, Bộ Tư pháp cho biết, việc xử phạt vi phạm hành chính sẽ bao gồm việc áp dụng hình thức xử phạt (hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung) và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả nếu các nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước có quy định hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đốivới hành vi vi phạm đó. Hay nói cách khác, việc áp dụng hình thức xử phạt bổ sung hoặc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính phải được áp dụng kèm theo hình thức xử phạt chính.

Cũng theo Bộ Tư pháp, tại Khoản 1 Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính đã quy định: Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính, nếu trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt cảnh cáo hoặc 1 năm, kê từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính khác hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính.

Quy định nêu trên của Luật Xử lý vi phạm hành chính xác định 1 cá nhân hay tổ chức chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nếu đã chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm. Như vậy, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định căn cứ tính thời hạn, thời hiệu để xác định cá nhân, tổ chức được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính đó là quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà không căn cứ vào quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

“Căn cứ các quy định pháp luật nêu trên, trường hợp người có thẩm quyền không ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính mà chỉ ban hành quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả độc lập theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì không được xem là đã bị xử phạt vi phạm hành chính để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự”, Bộ Tư pháp nêu rõ.

Thanh Hải

tra-cuu-diem-thi-bottom-article