Lỗi khi đơn phương chấm dứt hợp đồng cho thuê tài sản

Cập nhật: 09:41 | 12/02/2019
Hội đồng thẩm phán (HĐTP) của TAND TC vừa ra Án lệ số 21 về lỗi và thiệt hại trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng cho thuê tài sản…

Tranh chấp thực hiện hợp đồng…

Án lệ này được ban hành bắt nguồn từ Quyết định giám đốc thẩm số 08/2016/KDTM-GĐT ngày 20-5-2016 của HĐTP TAND TC về vụ án kinh doanh, thương mại “Tranh chấp hợp đồng cho thuê tài sản” tại tỉnh Quảng Ninh giữa nguyên đơn là Cty trách nhiệm hữu hạn D (Cty D) với bị đơn là Cty CP C.

Theo nguyên đơn, ngày 10-4-2006, Cty D ký Hợp đồng số 1141/HĐ-CNQN (về việc thuê đầu máy lai, dắt) với Cty CP C (C). Theo đó, Cty D cho Cty C thuê 2 đầu máy vỏ thép loại kéo, đẩy, công suất 135 CV và nhận ba nơ lai dắt, đẩy kéo tàu của Cty C ra vào cảng lấy hàng tại cảng 10-10 và cảng Khe Dây Quảng Ninh; đơn giá thuê (bao gồm cả thuế VAT) là 50 triệu đồng /tháng cho một đầu máy; chi phí toàn bộ nhiên liệu cho đầu máy do Cty C trả cho Cty D theo định mức là 17 lít dầu diezel/1 giờ nổ máy/máy công suất 135 CV + 0,23 lít dầu nhờn bôi trơn/1giờ/1 máy công suất (giá nhiên liệu sẽ được hai bên tính tại thời điểm thanh toán và các khoản phát sinh hai đầu bến, nếu có). Cty D có trách nhiệm bố trí nhân lực, chức danh trên phương tiện gồm 1 thuyền trưởng, 1 máy trưởng, 1 thủy thủ; phải chi trả toàn bộ tiền lương cho công nhân trên phương tiện... Hợp đồng có hiệu lực từ ngày ký đến hết ngày 31-12-2006.

Ngày 17-8-2006, Cty C có Công văn số 2349 INDEVCO đề nghị Cty D chấm dứt và thanh lý Hợp đồng số 1141/HĐ-CNQN trước thời hạn từ ngày 20-8-2006. Ngày 18-8-2006, Cty D có Công văn số 59 trả lời Cty C và đề nghị thanh toán dứt điểm số tiền thuê 2 đầu máy trong quý II năm 2006 (có Biên bản đối chiếu thanh quyết toán ngày 13-7-2006) và trong trường hợp Cty C không còn nhu cầu thuê 2 đầu máy kể từ ngày 20-8-2006 nữa thì đề nghị thanh quyết toán tiền thuê 2 đầu máy cho thời gian còn lại của hợp đồng từ ngày 1-8-2006 đến 31-12-2006.

Ngày 4-9-2006, Cty C và Cty D lập Biên bản quyết toán tiền thuê đầu máy; hai bên cùng xác định tổng số tiền Cty C phải trả cho Cty D tính đến ngày 21-8-2006 là hơn 511 triệu đồng. Ngày 16-1-2007, Cty C thanh toán cho Cty D số số tiền này. Tháng 3-2007, sau nhiều lần thương lượng không thành, Cty D khởi kiện yêu cầu tòa án buộc Cty C phải thanh toán 403 triệu đồng và tiền lãi do chậm thanh toán tính từ ngày 21-8-2006 đến ngày 31-12-2006 theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện của nguyên đơn rút yêu cầu buộc thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán. Trong khi đó, đại diện bị đơn trình bày, ngày 17-8-2006, do không còn nhu cầu sử dụng 2 đầu máy đã thuê, Cty C đã có công văn gửi Cty D đề nghị chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Bị đơn đã thanh toán hơn 511 triệu đồng. Cty C không đồng ý trả 403 triệu đồng vì không đúng thực tế, yêu cầu Cty D tính toán lại. Cty C chỉ chấp nhận hỗ trợ 50% tổng số kê khai nhưng phải đúng và phù hợp.

loi khi don phuong cham dut hop dong cho thue tai san
Ảnh minh họa.

Lý do được chọn làm án lệ!

HĐXX sơ thẩm của TAND tỉnh Quảng Ninh đã có Bản án số 01/2012/KDTM-ST ngày 18-01-2012 tuyên: Không chấp nhận yêu cầu của Cty TNHH D đòi Cty C (nay là Tổng Cty CP Tập đoàn I) phải thanh toán giá trị còn lại của Hợp đồng số 1141HĐ-CNQN số tiền 303.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả hơn 157 triệu đồng.

Sau đó, Cty TNHH D có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm (dấu bưu điện nơi gửi là ngày 25-2-2012). Tại Quyết định không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn số 87/2012/KDTMPT-QĐ ngày 17-5-2012, Tòa phúc thẩm - TAND TC tại Hà Nội quyết định không chấp nhận kháng cáo của Cty D với lý do là kháng cáo quá hạn. Cty D đã đề nghị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm đối với quyết định phúc thẩm nêu trên.

Chánh án TAND TC có quyết định kháng nghị đề nghị HĐTP- TAND TC xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm theo hướng hủy Quyết định không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn số 87/2012/KDTMPT-QĐ, Bản án sơ thẩm số 01/2012/KDTM-ST và giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh Quảng Ninh xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện VKSND TC nhất trí với quyết định kháng nghị của Chánh án TAND TC.

Tòa nhận định, ngày 10-4-2006, Cty D cho Cty C thuê hai đầu máy vỏ thép và lai dắt tàu ra vào tại cảng 10-10 và cảng Khe Dây Quảng Ninh, có hiệu lực từ ngày ký đến ngày 31-12-2006 theo Hợp đồng kinh tế số 1141/HĐ-CNQN. Trong hợp đồng không có thỏa thuận về điều kiện chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, đến ngày 17-8-2006, Cty C có Văn bản số 2349/INDEVCO thông báo chấm dứt hợp đồng từ ngày 20-8-2006 với lý do “không có nhu cầu thuê 2 đầu máy”.

Thời gian Cty C ra văn bản thông báo đến khi chấm dứt hợp đồng là quá ngắn, đã gây thiệt hại cho Cty D do không thể có được hợp đồng khác thay thế ngay. Lỗi thuộc về Cty C nên phải chịu trách nhiệm đối với khoản thiệt hại đã gây ra cho Cty D.

Thiệt hại thực tế cần xem xét là khoản tiền cho thuê phương tiện trong thời gian còn lại của hợp đồng. Trước khi khởi kiện, nguyên đơn đã có Công văn số 75CVCtyDG (không đề ngày, tháng, chỉ ghi năm 2006) yêu cầu Cty C thanh toán tiền thuê 2 đầu máy từ ngày 21-8-2006 đến 31-12-2006 với tổng số tiền là 250 triệu đồng.

Tại Công văn số 2774 INDEVCO ngày 17-10-2006, Cty C chỉ đồng ý hỗ trợ chi trả lương công nhân lái tàu. Không đồng ý nên ngày 18-3-2007, Cty TNHH D khởi kiện yêu cầu Cty C phải thanh toán 403 triệu đồng (là số tiền cho thuê 2 đầu máy trong thời gian còn lại của hợp đồng). Đây có thể xem như là khoản thiệt hại thực tế mà nguyên đơn yêu cầu bồi thường.

Khi tòa án cấp sơ thẩm thụ lý để xét xử sơ thẩm lại, Cty D yêu cầu đòi giá trị còn lại của hợp đồng từ ngày 21-8-2006 đến ngày 31-12-2008 là 403 triệu đồng và tiền lãi. Do Cty C đã trả được 100 triệu đồng nên còn phải thanh toán tiếp 303 triệu đồng và tiền lãi chậm trả.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng, yêu cầu này là không có căn cứ nên không chấp nhận vì cho đây là số tiền giá trị còn lại của hợp đồng chưa được thực hiện. Mặt khác, tòa án cấp sơ thẩm còn nhận định do Cty D có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng Cty D không yêu cầu nên không xem xét yêu cầu của Cty D là không đúng, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của Cty D. Theo biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 18-1-2012, đại diện Cty D có mặt tại phiên tòa nên phải biết nội dung và quyết định của tòa.

Ngày 10-2-2012, Cty D mới có đơn kháng cáo (dấu bưu điện nơi gửi là ngày 25-2-2012, dấu công văn đến ngày 27-2-2012) là đã quá hạn. Tuy nhiên, Cty D cho rằng lý do kháng cáo quá hạn là do đại diện Cty không nghe rõ chủ tọa tuyên án là không có căn cứ theo quy định tại mục 5 phần I Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 4-8-2006 của HĐTP TANDTC. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo quá hạn là đúng.

Mặc dù Quyết định không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn số 87/2012/KDTMPT-QĐ ngày 17-5-2012 của Tòa phúc thẩm TAND TC tại Hà Nội là có căn cứ, nhưng do bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật theo quyết định này, nên cũng cần phải hủy cả Quyết định không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn số 87/2012/KDTMPT-QĐ và Bản án sơ thẩm số 01/2012/KDTM-ST, giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh Quảng Ninh xét xử lại.

Do đó, tòa quyết định hủy Quyết định không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn số 87/2012/KDTMPT-QĐ của Tòa phúc thẩm TAND TC tại Hà Nội và Bản án sơ thẩm số 01/2012/KDTM-ST, giao hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh Quảng Ninh xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.

Ở vụ này này, nội dung được chọn làm án lệ là: “Ngày 10-4-2006, Cty D cho Cty C thuê hai đầu máy vỏ thép và lai dắt tàu ra vào tại cảng 10-10 và cảng Khe Dây Quảng Ninh, có hiệu lực từ ngày ký đến ngày 31-12-2006 theo Hợp đồng kinh tế số 1141/HĐ-CNQN. Trong hợp đồng không có thỏa thuận về điều kiện chấm dứt hợp đồng.

Tuy nhiên, đến ngày 17-8-2006, Cty C có Văn bản số 2349/INDEVCO thông báo chấm dứt hợp đồng từ ngày 20-8-2006 với lý do “không có nhu cầu thuê 2 đầu máy”. Thời gian Cty C ra văn bản thông báo đến khi chấm dứt hợp đồng là quá ngắn, đã gây thiệt hại cho Cty D do không thể có được hợp đồng khác thay thế ngay. Lỗi thuộc về Cty C nên phải chịu trách nhiệm đối với khoản thiệt hại đã gây ra cho Cty D. Thiệt hại thực tế cần xem xét là khoản tiền cho thuê phương tiện trong thời gian còn lại của hợp đồng”.

Đỗ Phương