Ngưỡng chịu thuế tài sản với nhà ở giá trị từ 2 tỷ đồng là phù hợp?

Cập nhật: 10:02 | 15/12/2018
Đề nghị xây dựng Luật Thuế tài sản, trong đó có đánh thuế đối với đất ở đã nhận được nhiều ý kiến trái chiều, nhất là quy định đánh thuế với nhà ở có giá trị từ 700 triệu đồng trở lên.

Tại Hội thảo khoa học về khả năng áp dụng và tác động của thuế tài sản ở Việt Nam vừa được tổ chức, TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR) cho rằng, dự thảo Luật Thuế tài sản được xây dựng khi chưa có cơ sở dữ liệu đầy đủ về phân phối tài sản của xã hội. Và khi chưa có đầy đủ dữ liệu thì đề xuất mức đánh thuế nhà trên 700 triệu đồng Bộ Tài chính đưa ra là chưa hợp lý.

Nói về kinh nghiệm quốc tế về luật thuế tài sản và thực tiễn tại Việt Nam, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường, Học viện Tài chính cho biết, có 174/193 nước trên thế giới thực hiện thu thuế tài sản với nhiều tên gọi khác nhau. Các quốc gia không dùng tên “thuế tài sản” mà cụ thể hơn như Nhật Bản gọi là thuế tài sản cố định, Philippines là thuế tài sản thực.

Ông Vũ Sỹ Cường cũng cho hay, dù các nước có nhiều cách đánh thuế bất động sản khác nhau nhưng nhìn chung đóng góp cho ngân sách của các thuế bất động sản vào ngân sách của các nước là tương đối hạn chế. Tuy nhiên, thuế bất động sản lại là nguồn thu ngân sách chủ yếu của chính quyền địa phương nhiều quốc gia.

nguong chiu thue tai san voi nha o gia tri tu 2 ty dong la phu hop
TS Vũ Sỹ Cường: “Thuế bất động sản là nguồn thu ngân sách chủ yếu của chính quyền địa phương nhiều quốc gia”. Ảnh: P. Thảo

Ví dụ, thuế bất động sản chiếm 80% thu ngân sách địa phương tại Thái Lan, chiếm 36% tại Chile, 40% tại Ba Lan… Tại Việt Nam, đóng góp của thuế sử dụng đất phi nông nghiệp vào ngân sách còn rất khiêm tốn, cả phương diện quốc gia và địa phương.

“Tại một số nước trên thế giới loại thuế này có tác dụng để can thiệp tình trạng bất bình đẳng nhưng không hiệu quả, vì người giàu có thể lách thuế bằng cách chuyển tài sản. Nhiều quan điểm khẳng định thuế tài sản là công cụ tốt để điều chỉnh thu nhập nhưng trên thực tế lại không phải. Hầu hết các nước quy thuế tài sản về các địa phương”, ông Vũ Sỹ Cường cho hay.

TS Nguyễn Việt Cường, ĐH Kinh tế quốc dân đã có nghiên cứu đưa ra dự báo ảnh hưởng của Luật Thuế tài sản lên phúc lợi hộ gia đình, dựa trên số liệu “Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2016” do Tổng cục Thống kê điều tra với mẫu 9.399 hộ gia đình tại 6 vùng địa lý, bao gồm cả nông thôn và thành thị.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, thuế tài sản làm giảm thu nhập khả dụng của hộ gia đình, ít nhất trong ngắn hạn. Thu nhập giảm sẽ làm mức chi tiêu thực tế giảm, và mức chi tiêu giảm sẽ làm tăng khả năng rơi vào nghèo đói.

TS Nguyễn Việt Cường dự tính, với ngưỡng chịu thuế là giá trị nhà ở từ 700 triệu đồng, nếu thuế suất 0,3% thì mức thuế mỗi hộ gia đình phải nộp là 978 nghìn đồng (bằng 0,66% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 638 nghìn đồng (bằng 0,27% tổng chi tiêu). Nếu thuế suất là 0,4% thì mức thuế mỗi hộ phải nộp khoảng 1,3 triệu đồng (bằng 0,89% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 851 nghìn đồng (bằng 0,36% tổng chi tiêu).

Đối với ngưỡng chịu thuế 1 tỷ đồng, nếu thuế suất là 0,3%, mức thuế mỗi hộ phải nộp là 897 nghìn đồng (bằng 0,61% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 600 nghìn đồng (bằng 0,25% tổng chi tiêu). Nếu thuế suất là 0,4%, mức thuế mỗi hộ phải nộp là 1,198 triệu đồng (bằng 0,82% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 800 nghìn đồng (bằng 0,34% tổng chi tiêu).

Cuối cùng, đối với ngưỡng chịu thuế từ 2 tỷ đồng, nếu thuế suất là 0,3%, mức thuế mỗi hộ phải nộp là 763 nghìn đồng (bằng 0,53% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 525 nghìn đồng (bằng 0,22% tổng chi tiêu). Nếu thuế suất là 0,4%, mức thuế mỗi hộ phải nộp là 1,019 triệu đồng (bằng 0,72% tổng thu nhập), mức chi tiêu giảm đi là 700 nghìn đồng (bằng 0,29% tổng chi tiêu).

“Phương án thuế suất 0,3% và ngưỡng chịu thuế 2 tỷ đồng đối với nhà ở là có tác động nhỏ nhất với hộ gia đình. Phương án thuế suất 0,4% và ngưỡng chịu thuế 1 tỷ đồng đối với nhà ở có tác động nhỏ hơn đến các hộ gia đình nhưng vẫn duy trì được doanh thu thuế cao”, TS Nguyễn Việt Cường nhận định.

Đáng quan tâm, các hộ gia đình có chủ hộ là nữ, chủ hộ nhiều tuổi, chủ hộ học vấn cao bị ảnh hưởng nhiều hơn các hộ có chủ hộ là nam giới, trẻ tuổi và học vấn thấp. Đồng thời, các hộ gia đình có nhiều người cao tuổi bị ảnh hưởng nhiều hơn; các nhóm dân tộc Kinh, Tày, Mường chịu nhiều ảnh hưởng hơn các nhóm dân tộc khác; tác động của thuế lên khu vực thành thị và các vùng đồng bằng cao hơn lên khu vực nông thôn và miền núi…

Còn TS Nguyễn Đức Thành cho rằng, thuế tài sản nếu được ban hành như Dự thảo hiện nay sẽ làm giảm thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình. Tuy nhiên, nó không ảnh hưởng tới đói nghèo và chủ yếu làm giảm thu nhập của người giàu.

Cũng theo ông Thành, không có thuế tài sản chung chung, mà cần cụ thể hóa thành một loại thuế nào đó, có bản chất liên quan đến tài sản. Theo kinh nghiệm quốc tế, thuế bất động sản là loại thuế địa phương và chính quyền địa phương có quyền hạn nhất định trong việc đặt ra thuế suất. Việc áp dụng luật thuế đại trà như trong Dự thảo là đi ngược lại với thông lệ quốc tế, khó thực hiện.

Cũng theo ông Thành, muốn cải thiện thu, phải nâng tính giải trình trong các khoản chi ngân sách và cải thiện ngân sách cần bắt nguồn từ tiết kiệm chi, chứ không phải việc tăng cường thu.

“Chỉ số bất bình đẳng được cải thiện nhưng chủ yếu do người giàu bị nghèo đi chứ không phải do người nghèo được cải thiện. Vì vậy, đây không phải một sắc thuế bền vững, nếu chi tiêu công không thúc đẩy phúc lợi và năng suất toàn xã hội”, ông Thành nói.

“Chỉ số bất bình đẳng được cải thiện nhưng chủ yếu do người giàu bị nghèo đi chứ không phải do người nghèo được cải thiện. Vì vậy, đây không phải một sắc thuế bền vững, nếu chi tiêu công không thúc đẩy phúc lợi và năng suất toàn xã hội”, ông Thành nói.

Phương Thảo