Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật

Cập nhật: 07:49 | 07/05/2019
Ở Việt Nam, trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật được quan tâm thực hiện từ rất sớm và được ghi nhận bằng sự ra đời của Pháp lệnh về Người tàn tật năm 1998.

Về phương diện trợ giúp xã hội cho NKT, có thể kể đến sự ra đời của Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 9-3-2000 của Chính phủ về chính sách cứu trợ xã hội; Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13-4-2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội, tiếp đến là Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27-2-2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP; đặc biệt là Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21-10-2013 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội (Nghị định số 136/2013/NĐ-CP)… và một số các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành có liên quan.

Theo Luật NKT năm 2010, NKT được định nghĩa “là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập khó khăn” (Điều 2). NKT được hưởng chính sách hỗ trợ của Nhà nước tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, tuy nhiên, chế độ trợ giúp xã hội thường xuyên chỉ áp dụng đối với hai loại đối tượng NKT là NKT nặng và NKT đặc biệt nặng.

Mức độ khuyết tật được quy định cụ thể tại Điều 3 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/04/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật NKT năm 2010 (Nghị định số 28/2012/NĐ-CP): “NKT đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những người khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày, mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn. NKT nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc”.

phap luat ve tro giup xa hoi doi voi nguoi khuyet tat

Người khuyết tật được nhận trợ giúp xã hội (ảnh: T.Liên)

Việc mở rộng đối tượng được hỗ trợ kinh phí khi chăm sóc, nuôi dưỡng NKT đã có bước tiến đáng kể. Theo Nghị định số 28/2012/NĐ-CP thì đối tượng mắc bệnh tâm thần mãn tính được xếp chung với nhóm đối tượng NKT hưởng trợ cấp xã hội. Bên cạnh chế độ trợ cấp với bản thân NKT, pháp luật cũng quy định quyền lợi cho thân nhân gia đình và người nhận nuôi NKT thông qua chế độ hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng, bao gồm: “Gia đình có NKT đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người đó; người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc NKT đặc biệt nặng; NKT được hưởng trợ cấp xã hội đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi” (khoản 2, Điều 44). Việc bổ sung thêm hai nhóm đối tượng là người nhận nuôi dưỡng chăm sóc NKT đặc biệt nặng và NKT mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi thể hiện sự tiến bộ trong mục tiêu an sinh xã hội và đảm bảo quyền của NKT là phụ nữ và trẻ em.

Liên quan tới chế độ nuôi dưỡng NKT tại các cơ sở bảo trợ xã hội có thể khẳng định nuôi dưỡng NKT tại các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước là một hoạt động có ý nghĩa nhân đạo và nhân văn đối với NKT. Pháp luật hiện hành quy định: “NKT đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội” (khoản 1 Điều 45). Nhìn chung, chế độ nuôi dưỡng NKT trong các cơ sở bảo trợ xã hội tương đối toàn diện, đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu, đặc biệt Luật NKT năm 2010 còn quy định cụ thể về chăm sóc y tế và khám chữa bệnh cho họ.

Cùng với đó pháp luật trợ giúp xã hội đã quy định cụ thể kinh phí thực hiện chế độ trợ giúp xã hội đối với NKT. Theo Điều 33 Nghị định số 28/2012/NĐ-CP, kinh phí thực hiện chính sách bảo trợ xã hội, kinh phí khảo sát, thống kê, ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý NKT, kinh phí tuyên truyền, phổ biến chính sách, kinh phí tập huấn cho cán bộ làm công tác NKT, Hội đồng xác định mức độ khuyết tật, Hội đồng xét duyệt trợ cấp xã hội, kinh phí chi trả trợ cấp xã hội áp dụng theo quy định của Chính phủ về kinh phí thực hiện chính sách cho đối tượng bảo trợ xã hội.

Thủy Liên

tra-cuu-diem-thi-bottom-article