Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng

Quá trình nghiên cứu, chuẩn bị phê chuẩn Công ước của Việt Nam

Cập nhật: 23:16 | 18/05/2019
Ngày 6-1-2004, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Thanh tra Chính phủ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành hữu quan tiến hành nghiên cứu sâu nội dung Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, rà soát hệ thống pháp luật, đánh giá thuận lợi, khó khăn của Việt Nam…

Quá trình nghiên cứu, đề xuất phê chuẩn Công ước đã được Thanh tra Chính phủ và các Bộ, ngành phối hợp tiến hành trong thời gian hơn 5 năm dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, với việc tổ chức 1 hội thảo quốc tế, 4 hội thảo liên Bộ, ngành, nhiều cuộc hội thảo nhỏ giữa các chuyên gia trong và ngoài nước. Đặc biệt, 18 Bộ, ngành có liên quan đã có ý kiến đóng góp cho kết quả nghiên cứu và hồ sơ phê chuẩn Công ước; đã có quan điểm chính thức nhất trí cao với sự cần thiết của việc phê chuẩn Công ước.

Trong đó, Bộ Tư pháp đã có văn bản thẩm định, Bộ Ngoại giao đã có văn bản kiểm tra đối với hồ sơ đề nghị phê chuẩn Công ước và nhất trí cao với kết quả nghiên cứu và đề xuất của Thanh tra Chính phủ về việc phê chuẩn Công ước.

Có thể nói, quá trình nghiên cứu, đề xuất phê chuẩn Công ước là quá trình rà soát, đánh giá khả năng đáp ứng của pháp luật Việt Nam, đánh giá khả năng đáp ứng và sự sẵn sàng thực thi Công ước của các Bộ, ngành và toàn bộ hệ thống chính trị; dự báo các thuận lợi, khó khăn và các tác động của Công ước sau khi Việt Nam phê chuẩn. Quá trình này luôn quán triệt sự lãnh đạo của Đảng trong các Văn kiện Nghị quyết, nhất là trong Nghị quyết TW 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí và luôn gắn với thực tiễn đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam và quốc tế.

qua trinh nghien cuu chuan bi phe chuan cong uoc cua viet nam
Đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị các quốc gia thành viên Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng. ảnh tư liệu

Quá trình nghiên cứu, đề xuất phê chuẩn Công ước, những vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các Bộ, ngành và các chuyên gia nghiên cứu là khả năng đáp ứng của pháp luật và thực tiễn Việt Nam đối với các quy định trong Công ước về các vấn đề như thu hồi tài sản tham nhũng, kỹ thuật điều tra đặc biệt đối với hành vi tham nhũng, trách nhiệm pháp lý hình sự của pháp nhân có tham nhũng; điều tra chung hay liên kết điều tra đối với hành vi tham nhũng, quy định tham nhũng trong khu vực tư, dẫn độ tư pháp, quy định về hành vi làm giàu bất hợp pháp, cơ chế thi hành Công ước, các nội dung bảo lưu của Việt Nam khi phê chuẩn Công ước...

Để xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất phê chuẩn Công ước, phương pháp nghiên cứu Công ước và rà soát pháp luật Việt Nam được dựa trên 2 nhóm tiêu chí lớn: Đánh giá sự ràng buộc của các yêu cầu của Công ước đối với quốc gia thành viên; đánh giá sự phù hợp, đáp ứng của pháp luật Việt Nam so với yêu cầu của Công ước.

Về đánh giá sự ràng buộc của các yêu cầu của Công ước đối với quốc gia thành viên, công tác rà soát lại căn cứ vào 3 tiêu chí nhỏ hơn thể hiện các mức độ ràng buộc (những yêu cầu mang tính bắt buộc, quốc gia có nghĩa vụ phải thực hiện; những yêu cầu mang tính tùy nghi, quốc gia có nghĩa vụ xem xét, cân nhắc việc thực hiện trên cơ sở phù hợp với nguyên tắc của pháp luật quốc gia; những khuyến nghị, quốc gia được khuyến khích xem xét thực hiện).

Việc khẳng định mức độ ràng buộc nói trên là tương đối khó khăn, bởi ngay cả bản dịch Công ước từ tiếng Anh sang tiếng Việt vẫn tôn trọng cấu trúc ngôn ngữ tiếng Anh để đảm bảo chính xác tinh thần Công ước. Tuy nhiên, các chuyên gia ngôn ngữ và pháp lý của Việt Nam đã căn cứ vào lời văn tiếng Anh trong từng quy định của Công ước và dựa trên Bản hướng dẫn lập pháp thực thi Công ước của Ủy ban phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) để đi đến thống nhất đánh giá một cách tương đối mức độ ràng buộc của Công ước đối với quốc gia thành viên.

Đó là: Về nội dung, Công ước có 237 yêu cầu, trong đó 135 yêu cầu mang tính bắt buộc, 38 yêu cầu mang tính khuyến nghị và 64 yêu cầu mang tính tuỳ nghi. Nhận định chung hết sức quan trọng rút ra từ kết quả nghiên cứu Công ước là: Tính chất khuyến nghị là đặc trưng cơ bản của Công ước.

Đánh giá sự phù hợp của pháp luật Việt Nam so với yêu cầu của Công ước, công tác nghiên cứu chia mức độ phù hợp theo 3 cấp độ: cấp độ A - pháp luật Việt Nam hoàn toàn phù hợp về nguyên tắc Hiến pháp và pháp luật thực định, có thể áp dụng trực tiếp quy định của Công ước; cấp độ B - pháp luật Việt Nam đáp ứng về cơ bản – nghĩa là đáp ứng trên nguyên tắc Hiến pháp; pháp luật thực định đã có quy định nhưng chưa đủ chi tiết, đồng bộ - cần có hướng dẫn hoặc cụ thể hóa để thi hành; cấp độ C - pháp luật Việt Nam chưa đáp ứng (nhất là trên phương diện nguyên tắc Hiến pháp và pháp luật Việt Nam) hoặc chỉ đáp ứng được một phần, cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới.

Việc đánh giá này phải rà soát pháp luật hiện hành và thực tế đáp ứng. Việc phân biệt cấp độ A và B chỉ là tương đối trong nhiều trường hợp. Riêng việc xác định cấp độ C phải rất chính xác. Tuy nhiên, quá trình khảo sát, nghiên cứu của các cơ quan chức năng đã khẳng định trách nhiệm và đạt tới sự đồng thuận rất cao.

Đỗ Phương

tra-cuu-diem-thi-bottom-article